Con hổ phục: Trung Quốc hành động, Mĩ Quốc chần chờ

Con hổ phục: Trung Quốc hành động, Mĩ Quốc chần chờ

Peter Navarro, Ph.D.

Trịnh Y Thư dịch

Crouching tiger

 

 

 

 

Lời người dịch: Sau khi Tòa án Trọng tài Thường trực đưa ra phán quyết bác bỏ tính hợp pháp của tuyên bố chủ quyền “đường lưỡi bò chín đoạn” của Trung Quốc – đòi chủ quyền 90% lãnh hải Biển Đông, một vùng biển rộng cả triệu dặm vuông, hải sản và tài nguyên phong phú, và cũng là một hải tuyến giao thương quan yếu mỗi năm 5 nghìn tỉ đô la hàng hóa qua lại – Trung Quốc vẫn tiếp tục xem thường công luận quốc tế, duy trì thái độ hung hăng cố hữu, không ngừng tập diễn quân sự tại các hòn đảo nhân tạo cưỡng chiếm quanh quần đảo ám tiêu san hô Trường Sa, đồng thời tích cực vận động ngoại giao để lôi kéo đồng minh về phe mình.

Hành động này của Trung Quốc hiện đang là đề tài cho không ít những tranh nghị, tuy không làm thành bản tin nóng hổi hằng ngày trên các kênh truyền hình nước Mĩ nhưng ở hậu trường nó là vấn đề nhức nhối vô cùng nghiêm trọng và được quan tâm tối đa trong giới lãnh đạo và học giả chuyên gia Hoa Kì. Đã có không ít giấy mực tuôn ra với nhiều luận điểm khác nhau trên các diễn đàn chính trị kinh tế, điển hình là bài viết phân tích đầy đủ và sâu sắc của Giáo sư Tiến sĩ Peter Navarro dưới đây. Dẫn chứng các học giả, phân tích gia chiến lược, chuyên gia chính trị và kinh tế thuộc các học viện và “think-tank” danh tiếng, ông đưa ra cái nhìn sáng suốt và thực tiễn về thực trạng quan hệ chiến lược giữa Trung Quốc và Hoa Kì, về hiểm họa chiến tranh có thể xảy ra giữa hai cường quốc kinh tế – quân sự này, và đáng chú ý nhất, về cán cân lực lượng chiến lược giữa đôi bên, về những thách đố khó khăn Hoa Kì phải đương đầu. Phần cuối bài viết, ông đề xuất chính sách chiến lược Hoa Kì nên áp dụng trong những thập niên sắp tới hầu có thể đối phó với con hổ phục Trung Quốc đang giơ nanh múa vuốt với mưu toan chinh phục chẳng những vùng Á Châu – Thái Bình Dương mà cả toàn thế giới.

Mặc dù tác giả viết bài này từ góc nhìn của Hoa Kì nhưng đây là bài viết đáng đọc cho người Việt quan tâm đến vấn đề Biển Đông bởi vì vị trí đặc biệt của Việt Nam ở vùng tranh chấp và dù muốn hay không Việt Nam vẫn nằm trong quỹ đạo chiến lược của hai siêu cường ấy.

Giáo sư Peter Navarro tốt nghiệp Đại học Harvard với cấp bằng Tiến sĩ Kinh tế học, hiện giảng dạy tại Đại học California-Irvine (UCI). Từ nhiều năm nay ông được biết đến như một chuyên gia Kinh tế vĩ mô xuất sắc, tác giả của mười một cuốn sách đã xuất bản. Cuốn mới nhất có nhan đề Con hổ phục: Chủ nghĩa quân phiệt của Trung Quốc có ý nghĩa gì với thế giới, mà ông đã dựa vào để thực hiện bài viết dưới đây, đăng trên quý san World Affairs Journal số mùa Đông năm 2016. Ông viết nhiều về Á Châu, có thời gian sinh sống và công tác nơi đó. Ông từng xuất hiện trên các kênh truyền hình như BBC, CNN, CNBC, MSNBC, NPR, và chương trình60 Minutes” của kênh CBS. Ông cũng viết tham luận cho các tờ báo danh tiếng như New York Times, Wall Street Journal Washington Post. Đặc biệt, ông còn chính tay thực hiện một cuốn phim tài liệu nhan đề “Death by China”(Vì Tàu mà chết) do nam tài tử nổi tiếng Martin Sheen giữ phần thuyết minh. (Bạn có thể stream cuốn phim này trên Netflix.)

Xin có đôi lời về bản dịch. Khi dịch cụm từ South China Sea, tôi không dịch là Biển Đông mặc dù đấy vẫn là tên gọi vùng biển này của người Việt xưa nay, mà dịch là biển Nam Hoa, lí do vì không muốn nhầm lẫn với East China Sea trong ngữ cảnh toàn bài. Hình ảnh trong bài là do tôi thu nhặt từ Từ điển Bách khoa Wikipedia và cuốn sách nói trên của tác giả. Thêm vào đó, tôi dựng bảng chú thích để giúp phần nào hiểu thêm văn bản nguyên tác. Phần chú thích, nếu có sai lầm hoặc sơ sót mong được quý độc giả chỉ giáo.

*

Sẽ có chiến tranh với Trung Quốc không? Câu trả lời có lẽ tùy thuộc ai là người thắng cử vào Tòa Bạch Ốc năm nay, và chính sách nào chính phủ mới sẽ đem ra áp dụng.

Mối đe dọa một cuộc xung đột xảy ra không hẳn là hoang tưởng. Chuyên gia chính trị Stefan Halper thuộc Đại học Cambridge không muốn “báo động” nhưng ông ghi nhận là có những “khác biệt sâu sắc” Trung Quốc quyết tâm chuẩn bị giải quyết vấn đề bằng vũ lực. Ông Graham Allison thuộc Đại học Harvard cũng cảnh giác tương tự về một cái “bẫy Thucydides”(1) mà trong đó một Trung Quốc đang trên đường tiến lên địa vị cường quốc sắm vai trò Athens để kình chống lại Sparta Hoa Kì, và từ mối quan ngại có thể sẽ dẫn đến cuộc chạy đua võ trang và cuối cùng là chiến tranh. Ông Michael Green thuộc Trung tâm Nghiên cứu Chiến lược Quốc tế thì đưa ra lời đánh cuộc như sau: “Hoa Kì phải tiên kiến một tương lai nhiều khả thể với Trung Quốc, có thể hòa hoãn, thân thiện nhưng cũng có thể cực kì khó khăn, khốc liệt, và ở trường hợp tệ hại nhất, một Trung Quốc hung hãn, thù địch.

Với gia tốc bành trướng quân sự như đang thấy, nếu Trung Quốc chỉ tìm cách bảo vệ lãnh thổ và phát triển những tuyến giao thương toàn cầu để quốc gia thêm thịnh vượng thì thế giới có thể ngủ yên. Nhưng nếu Trung Quốc cùng lúc quyết tâm theo đuổi chủ nghĩa bành trướng, tìm cách đẩy lui quân đội Hoa Kì ra khỏi vùng Á Châu – Thái Bình Dương, cưỡng chiếm lãnh thổ, lãnh hải, cùng tài nguyên từ các quốc gia lân bang, thì có lẽ khó tránh được xung đột.

Sách lược tăng cường lực lượng quân sự để bảo vệ lãnh thổ của Bắc Kinh có căn nguyên từ ý thức “Thế kỉ Nhục nhã”(2). Từ những năm 1830 cho đến khi Thế Chiến Thứ Hai chấm dứt, Trung Quốc nằm dưới sự áp bức tàn bạo của ngoại nhân. Từ người Anh, người Nga, người Nhật cho đến người Đức, người Pháp, người Mĩ, tất cả hiếp dâm, chặt đầu, chiếm cảng, giành đất của người Trung Quốc. Ông Toshi Yoshihara thuộc Đại học Quân sự Hải quân Hoa Kì bảo, “Bài học lịch sử người Trung Quốc học được là ‘không bao giờ để tái diễn.’ Trung Quốc sẽ không bao giờ để mình yếu kém nữa bởi vì yếu kém có nghĩa là mời gọi ngoại nhân vào ức hiếp mình.”

Sách lược bành trướng quân sự cần thiết cho việc bảo vệ các tuyến giao thương cũng bắt nguồn từ lịch sử. Ngay từ khi Đặng Tiểu Bình khởi động tái thiết Trung Quốc, từ một quốc gia xã hội chủ nghĩa, tự lực cánh sinh, một bán cường quốc vùng để trở thành một siêu cường kinh tế toàn cầu như ngày nay, Tư lệnh Hải quân Trung Quốc lúc đó, Đô đốc Lưu Hoa Thanh (Liu Huaqing), đã bắt tay xây dựng một lực lượng hải quân tiên tiến để giúp họ Đặng củng cố và duy trì một Trung Quốc kinh tế hùng mạnh. Trong mắt nhìn của ông Yoshihara và ông James Holmes cũng thuộc Đại học Quân sự Hải quân Hoa Kì thì họ Lưu là một nhà quân sự Mahan, một danh hiệu lấy từ tên họ ông Alfred Thayer Mahan, một chiến lược gia lí thuyết người Mĩ sống vào thế kỉ XIX, người đề xuất chiến lược dùng lực lượng Hải quân toàn cầu như một phương tiện hỗ trợ phát triển kinh tế.

Lưu Hoa Thanh đề xuất chiến lược ba-bước mà hình như Trung Quốc kiên trì theo đuổi từ đó cho đến nay. Ở bước đầu, Trung Quốc sẽ phá vỡ mắt xích quần đảo thứ nhất, đó là hải tuyến chạy dài từ quần đảo Kuril và Nhật Bản xuyên qua tâm điểm Đài Loan băng ngang eo biển Luzon đến Philippines và xuống tận đảo Borneo của Malaysia. Về điểm này học giả Dean Cheng thuộc Sáng hội Heritage cho chúng ta biết, “Nếu mắt xích quần đảo thứ nhất nằm trong tay những quốc gia thù địch chống lại Bắc Kinh thì nó là cái rào cản không cho Trung Quốc khả năng đi ra biển khơi.”

Bước thứ hai Trung Quốc sẽ chặt đứt mắt xích quần đảo thứ hai, tức là hải tuyến chạy dài từ quần đảo Kuril xuống tận Tân Guinea, đâm thẳng qua cái neo của lực lượng quân sự Hoa Kì ở Á Châu: thành trì đảo Guam.

tuyen mat xich

 

 

Hai mắt xích quần đảo Lưu Hoa Thanh muốn phá vỡ

 

Sau cùng, vào quãng năm 2050, hạm đội Trung Quốc sẽ bao trùm toàn cầu phóng chiếu quyền lực ra toàn thế giới.

Nếu Trung Quốc thật sự thành công kiểm soát toàn thể lãnh hải Á Châu – Thái Bình Dương, họ chỉ có thể làm được bằng cách đánh bại Hoa Kì hoặc bắt Hoa Kì bằng lòng mà không có một thái độ phản kháng nào. Dĩ nhiên, hậu quả sẽ là một Trung Quốc càng hiếu chiến hơn với các quốc gia lân bang, tương tự như Nga với Đông Âu ngày nay.

Với “trò chơi lớn” mới này, hiểm họa chiến lược và kinh tế là vô cùng lớn lao. Về mặt chiến lược, kẻ nào kiểm soát cửa ngõ biển Nam Hoa ra Ấn Độ Dương, đi luồn qua eo biển Malacca nhỏ hẹp và trắc trở, kẻ đó kiểm soát luôn Đông Nam Á, và có lẽ cả Đông Á, bởi đa phần dầu khí dùng thắp đèn cho Nhật Bản và Nam Hàn đều phải đi qua vùng biển Nam Hoa này.

Thêm nữa, con đường buôn bán “lụa và hương liệu” hiện đại là hải trình của một phần ba tổng số lượng hàng hóa chuyên chở toàn cầu, chưa kể biển Đông Hoa và Nam Hoa còn là vùng biển có nhiều cá. Trong lúc đó, nằm bên dưới hơn một triệu dặm vuông đáy biển có thể là những túi dầu hỏa sánh ngang với vịnh Persia.

Ở biển Nam Hoa, Trung Quốc đã “thái dồi” xong quần đảo Hoàng Sa trong tay Việt Nam và ngang nhiên kéo những giàn khoan dầu nổi có cả hạm đội tàu chiến yểm trợ vào vùng biển mà Hà Nội vẫn xem là thuộc Việt Nam. Cùng một nước cờ, Trung Quốc cưỡng chiếm bãi đá ngầm Macclesfield Bank và bãi cạn Scarborough Shoal(3) của Philippines, bãi cạn Thomas Thứ Nhì vẫn còn dằng dai trong vòng tranh chấp chủ quyền giữa đôi bên. Thậm chí Trung Quốc còn để mắt đến vùng biển giàu khí đốt thuộc quần đảo Natuna của Indonesia, cách xa Hoa Lục cả nghìn dặm.

Tương tự như thế ở vùng biển Đông Hoa, Nhật Bản cũng đang lâm vào tình trạng dằng co càng lúc càng găng với Trung Quốc về đảo Senkaku, một quần thể năm hòn đảo nhỏ với tổng diện tích không quá hai dặm vuông. Vụ tranh chấp gay gắt này, được tô đậm bởi tinh thần quốc gia cực đoan, đã dẫn đến những cuộc biểu tình bài Nhật vĩ đại ở Hoa Lục cũng như những vận động của Tokyo nhắm đến một khả năng quân sự hùng mạnh hơn. Nó cũng đe dọa một viễn ảnh Hoa Kì bị lôi kéo vào vòng tranh chấp.

Nhiều quan sát viên tỏ vẻ hoang mang không hiểu lí do tại sao Trung Quốc lại càng lúc càng hung hăng tìm cách cưỡng chiếm vài “tảng đá bé xíu nằm chơ vơ trên mặt biển” như thế. Kì thực, chiếu theo Công ước Liên Hiệp Quốc về Luật Biển kí kết năm 1982 thì quốc gia nào sở hữu những bãi đá mà có thể duy trì cuộc sống đều được hưởng quy chế “Vùng Đặc quyền Kinh tế”, một đặc quyền khai thác tất cả tài nguyên thiên nhiên trong vòng 200 dặm. Bởi thế, theo giải thích của học giả Stefan Halper thuộc Đại học Cambridge, một cường quốc lục địa như Trung Quốc có thể bành trướng chủ quyền hàng hải nhanh chóng và sâu rộng nhờ những “vòng tròn đồng tâm” với “hiệu ứng nhảy cừu.” Để đạt mục tiêu họ chỉ cần cưỡng chiếm những hòn đảo nhỏ đang tranh chấp.

Công ước Liên Hiệp Quốc về Luật Biển cũng gây phức tạp rất lớn cho quan hệ giữa Hoa Kì và Trung Quốc. Trung Quốc đơn phương đưa ra khẳng định không cho tự do hàng hải, kể cả tàu chiến và phi cơ quân sự, chẳng những trong phạm vi cách đất liền 12 dặm mà cả Vùng Đặc quyền Kinh tế 200 dặm, một điều không hề được nói đến trong Công ước. Nếu chủ thuyết “ngăn biển” này của Trung Quốc được chấp nhận, Trung Quốc sẽ nắm trọn quyền kiểm soát tuyến giao thương lợi lộc nhất trên thế giới.

South_China_Sea_claims_map

 

 

 

 

 

 

Bản đồ biển Đông (theo cách gọi của Việt Nam) với đường “lưỡi bò chín đoạn” mà Trung Quốc áp đặt trong mưu toan thâm độc cưỡng chiếm 90% lãnh hải.

Sự tranh chấp về thẩm quyền này đã dẫn đến nhiều vụ va chạm. Năm 2001 Trung Quốc bắt giữ phi hành đoàn một phi cơ thám thính của Hoa Kì bị rơi. Gần đây hơn, chiến đấu cơ Trung Quốc bay những phi thức lộn vòng nguy hiểm cố tình khiêu khích một phi cơ tuần tra của Hoa Kì. Dưới biển Trung Quốc cũng cho tàu chiến bám đuôi tàu USS Impeccable, một chiếc tàu không võ trang chỉ có nhiệm vụ giám sát đại dương. Chưa hết, Trung Quốc còn chặn tàu USS Cowpens, một tuần dương hạm trang bị phi đạn tự hành, không cho chiến hạm này hoạt động trong hải phận quốc tế.

Sở dĩ không có quả bom nguyên tử nào thả xuống mặt đất trong thời kì Chiến tranh Lạnh, là vì Hoa Kì và Liên Xô nói chuyện với nhau. Thí dụ, giữa Tổng thống Hoa Kì và Thủ tướng Liên Xô có một “đường dây nóng” bắt đầu hoạt động từ năm 1963, và các chỉ huy trưởng Hải quân thường xuyên liên lạc với nhau “từ đài chỉ huy này sang đài chỉ huy kia.”

Giữa Trung Quốc và Hoa Kì ngày nay, không hề hiện hữu một cái “cầu dao” như thế. Cựu Thứ trưởng Quốc phòng Kurt Campbell lên khung dị biệt chiến lược này như sau: “Hoa Kì chủ trương phô trương sức mạnh. Xem này, chúng tôi mạnh mẽ là nhường nào, các ông chớ có mà vọng động.” Ngược lại, Trung Quốc “tìm thế ngăn chặn các lực lượng thù địch, thông thường là qua phương cách tạo sự bất định, không chắc chắn, khiến không ai biết rõ họ có khả năng gì.” Học giả David Lampton thuộc Đại học Johns Hopkins nói thêm: “Chúng ta tự khiến mình tin là sự sáng tỏ sẽ ngăn ngừa xung đột, nhưng Trung Quốc thì lại tin chính sự mơ hồ và không minh bạch mới đem lại kết quả tốt cho họ.”

Tương tự như thế, có sự dị biệt chiến lược khi các chiến hạm Hoa Kì và Trung Quốc chạm trán nhau trên đại dương, và những sự cố như thế ngày càng gia tăng. Từ quan điểm của Hoa Kì, liên lạc với nhau “từ đài chỉ huy này sang đài chỉ huy kia” là quan trọng vì nó giúp tránh những tính toán sai lầm. Tuy nhiên, theo giải thích của bà Stephanie Kleine-Ahlbrandt thuộc Học viện Hòa bình Hoa Kì thì, đối với Trung Quốc, đường dây trao đổi thông tin ấy chỉ là “dây cài bảo hiểm cho những kẻ phóng xe quá tốc độ.”

Đúng thế, giới lãnh đạo quân sự Trung Quốc tin tưởng là sẽ có lợi cho Trung Quốc hơn nếu cứ để các nhà quân sự Hoa Kì lo lắng, phân vân, không biết phản ứng của Trung Quốc sẽ như thế nào. Làm thế phía Hoa Kì sẽ thận trọng hơn. Đôi khi hình như họ quên mất một điều là “sự việc có thể vuột ra ngoài tầm kiểm soát” như giáo sư Campbell nói.

Hai cột trụ chống đỡ chiến lược quân sự của Trung Quốc – ngăn vùng và chiến tranh bất đối xứng – cũng nhắm vào những xung đột có thể xảy ra trong tương lai.

Chuyên gia Mark Stokes thuộc Học viện Nguyên cứu Chiến lược hiểu các thuật ngữ quân sự “chống xâm nhập” và “ngăn vùng”(4) là “ngăn cản.” Theo bà Bonnie Glaser thuộc Trung tâm Nghiên cứu Chiến lược Quốc tế thì mục tiêu của Trung Quốc là ngăn chặn các quốc gia khác, đặc biệt là Hoa Kì, để không nước nào có khả năng can thiệp vào lãnh địa hay lãnh hải gần Trung Quốc một khi biến động khủng hoảng xảy ra.

Còn theo ông Bill Gertz thuộc tổ chức Washington Hải đăng Tự do thì chiến lược bất đối xứng đi kèm theo của Trung Quốc không có mục đích “chống lại guồng máy chiến tranh của Hoa Kì trên cơ bản một-chọi-một, như đã từng xảy ra trong thời kì Chiến tranh Lạnh giữa Hoa Kì và Liên Xô.” Thay vào đó, “Trung Quốc tập trung năng lực thiết lập những hệ thống vũ khí thích dụng.” Ông Toshi Yoshihara, một học giả của trường Đại học Chiến tranh, tuyên bố như sau: “Một phần của cái đẹp đen tối trong chiến lược chống xâm nhập và ngăn vùng của Trung Quốc là sự chênh lệch rất xa giữa giá thành của các hệ thống vũ khí. Thí dụ, để đóng một chiếc hàng không mẫu hạm người ta phải tốn nhiều tỉ đô la, trong khi một giàn hỏa tiễn của Trung Quốc chỉ tốn vài triệu; và chỉ cần một hỏa tiễn là có thể bắn trúng mục tiêu. Một trận thư hùng như thế, Hoa Kì khó mà thắng được. Trung Quốc có thể sản xuất ra thật nhiều hỏa tiễn so với số lượng tàu lớn của Hoa Kì.”

Ông Ashley Tellis thuộc tổ chức Hỗ trợ Hòa bình Thế giới Carnegie miêu tả chiến lược đặt trọng tâm vào hệ thống hỏa tiễn “mũi giáo” của Trung Quốc có khả năng tấn công nhiều mục tiêu ở tất cả các hướng như là “một thí dụ tuyệt hảo về chiến tranh bất đối xứng.” Ông giải thích thêm, “Điểm thìa khóa các loại hỏa tiễn đạn đạo và hỏa tiễn tấn công đất liền giúp tạo thế thượng phong là khống chế khả năng phòng không của phe địch. Một khi triệt hủy được khả năng phòng không rồi, bạn có thể đem oanh tạc cơ hạng nặng vào trận địa.” Cùng một nhận định như vậy, ông Dan Blumenthal thuộc Viện Thương mại Hoa Kì bảo, “Vì thế, cho dù bạn ở Đài Loan, hay Nhật Bản hay thậm chí Việt Nam, bạn không ngừng trực diện những giàn hỏa tiễn của Trung Quốc mà có thể bắn trúng bạn. Mỗi lần thương thảo với người Trung Quốc, ngay đầu bạn lúc nào cũng có một khẩu súng lăm lăm chĩa vào.”

Không hẳn chỉ những quốc gia láng giềng với Trung Quốc nằm trong tình trạng nguy hiểm. Trong mắt nhìn của ông Lyle Goldstein, cũng thuộc Đại học Quân sự Hải quân Hoa Kì, thì loại hỏa tiễn siêu âm mới, cực kì cơ động, có khả năng lướt ngoài không gian của Trung Quốc là mối đe dọa đặc biệt đối với các căn cứ tiền đồn và hàng không mẫu hạm của Hoa Kì bởi vì loại hỏa tiễn này có một tốc độ siêu đẳng lúc từ không gian chui vào thượng tầng khí quyển.” Ông Gertz giải thích thêm: “Tất cả hỏa tiễn phòng vệ chống hỏa tiễn của quân đội chúng ta đều được chế tạo để chống hỏa tiễn đạn đạo và các loại hỏa tiễn khác có quỹ đạo tương đối dễ tiên đoán. Khi phải đối đầu với loại đầu đạn cơ động bay với tốc độ gấp mười lần tốc độ âm thanh thì các hệ thống chống hỏa tiễn của chúng ta trở nên tương đối kém hiệu quả.”

Trung Quốc cũng dự trữ trong kho đạn một số lượng thủy lôi khổng lồ, nhiều nhất thế giới, và hạm đội tiềm thủy đĩnh gia tăng mỗi ngày mỗi nhanh của họ thích nghi khít khao với chiến lược này. Mục đích của chiến thuật thả thủy lôi không phải là đánh đắm tàu địch, mà ngăn chặn, không cho tàu địch tiến vào hải phận bằng đòn khủng bố tâm lí và làm chậm tiến độ hải hành vì phải mất nhiều thời gian vét mìn. (Thí dụ, trong trận chiến Vùng Vịnh, mặc dù Hải quân Hoa Kì đã tốn rất nhiều công sức vét mìn, nhưng vẫn có hai quả thủy lôi nổ, mỗi quả trị giá không quá 50 ngàn đô la, làm thiệt hại tuần dương hạm USS Princeton trị giá một tỉ.) Trong mắt nhìn của ông Bernard Cole thuộc Đại học Quốc phòng thì thủy lôi là rào cản đặc biệt khó khăn trong trường hợp chiến tranh xảy ra giữa Trung Quốc và Đài Loan bởi vì cả đảo Đài Loan chỉ có hai hải cảng. Ông Yoshihara nói: “Nếu Trung Quốc tiên hạ thủ vi cường thả thủy lôi ngoài khơi hai hải cảng này, Đài Loan sẽ bị xem như cô lập. Không còn một hải cảng nào khác khả dĩ làm đường tiếp vận giúp Đài Loan tiếp tục chống đỡ.”

Thủy lôi của Trung Quốc được dùng song hành với hạm đội tiềm thủy đĩnh chạy bằng dầu cặn và điện lực. Đến năm 2020, theo dự báo của Ngũ Giác Đài, Trung Quốc sẽ có một hạm đội tiềm thủy đĩnh từ 69 đến 78 chiếc. Gần như tất cả những tiềm thủy đĩnh mới đóng đều được trang bị máy móc nhập từ nước ngoài cho hệ thống lực đẩy không tùy thuộc không khí.(5) Nhiều chiếc cũ cũng được tân trang với loại hệ thống máy móc đó. Ông Richard Fisher thuộc Trung tâm Lượng định và Chiến lược Quốc tế ghi nhận: “Tiềm thủy đĩnh chạy bằng dầu cặn và điện lực loại quy ước vốn dĩ đã khó truy tầm vì chúng không phát ra tiếng động lớn. Nay lại được trang bị bằng hệ thống lực đẩy không tùy thuộc không khí, chúng sẽ trở nên thập phần nguy hiểm hơn, nhất là đối với hạm đội hàng không mẫu hạm Hoa Kì.”

Ông Yoshihara hình dung ra một viễn ảnh ác mộng trong đó các tiềm thủy đĩnh quy ước của Trung Quốc nằm dưới đáy biển chờ hạm đội tác chiến hàng không mẫu hạm Hoa Kì đến gần rồi đồng loạt phóng ra hàng loạt hỏa tiễn tuần la chống chiến hạm để đánh phủ đầu đoàn chiến hạm phòng thủ. Chiến thuật đó chẳng những khiến người ta nhớ lại phương châm của Joseph Stalin “số lượng có chất lượng của chính nó,” mà còn đặt nghi vấn về niềm tin vẫn được bám víu một cách sâu rộng bấy lâu nay, đó là, kĩ năng vượt trội của guồng máy quân sự Hoa Kì sẽ luôn luôn đem lại chiến thắng.

Ông Aaron Friedberg thuộc Đại học Princeton cho chúng ta cái nhìn điềm tĩnh như sau: “Cộng đồng tình báo của Hoa Kì đã ngạc nhiên hết sức về chất lượng các hệ thống vũ khí do Trung Quốc chế tạo, và một phần của lí do đó là Trung Quốc đã và đang đánh cắp những sáng chế mật của Hoa Kì.” Kết quả, ngày nay Trung Quốc có thể chế tạo phi cơ không người lái y như Hoa Kì. Họ cũng bắt đầu cho bay những phi cơ tối tân nhất, như chiến đấu oanh tạc cơ Chengdu (Thành đô) J-20, mà Ngũ Giác Đài đã đánh giá sai lầm là cả nhiều thập niên nữa mới có; và, không như Hoa Kì bị hạn chế ngân sách (phải chấm dứt kế hoạch sản xuất chiến đấu cơ tối tân F-22), Trung Quốc sẽ tùy tiện sản xuất với số lượng khổng lồ bất kì loại vũ khí nào họ cho là cần thiết, tương tự như Hoa Kì đã làm thời Thế Chiến Thứ Hai để đánh phủ đầu những vũ khí tối tân hơn của Đức Quốc.J20_2

 

 

Chiến đấu cơ tàng hình thế-hệ-thứ-năm Chengdu J-20 của Trung Quốc

 

Trung Quốc công khai áp dụng chiến lược hai-gọng-kìm “giết hàng không mẫu hạm” để ngăn chặn, không cho lực lượng Hoa Kì xâm nhập vùng biển Á Châu – Thái Bình Dương bằng cách đi cưỡng chiếm các hòn đảo trong vòng tranh chấp thuộc vùng biển Đông Hoa và Nam Hoa. Trung Quốc cũng lăm le xâm lấn những ngọn đồi vùng biên giới Bắc Hàn, thậm chí còn muốn lấy đất của bang Arunachal Pradesh của Ấn Độ, vùng đất mà Trung Quốc gọi là “Nam Tạng.”(6)

Làm thế nào để duy trì hòa bình dưới những sức ép càng lúc càng gia tăng như thế? Chắc chắn Hoa Kì đã đánh cuộc khá lớn vào sức mạnh phát triển kinh tế trong ý định chuyển hóa Trung Quốc từ một chế độ độc tài, hiếu chiến thành một cơ cấu dân chủ tự do. Tuy vậy, theo lời ông Ian Fletcher thuộc Liên minh cho một Quốc gia Hoa Kì Thịnh vượng thì: “Phát triển kinh tế ở Trung Quốc không đưa quốc gia này đến chỗ dân chủ hơn. Nó chỉ giản dị biến thành một thể chế độc tài tinh vi và giàu có hơn.”

Quan trọng là sự am hiểu tinh tường về vai trò của tính liên thuộc kinh tế trong việc ngăn chặn – hay gây nên – xung đột. Nếu một quốc gia như Trung Quốc tùy thuộc nhiều vào việc buôn bán những món hàng quan yếu cho nền an ninh quốc gia, quốc gia ấy rất có thể chọn giải pháp chiến tranh một khi sự liên thuộc kinh tế gia tăng. Chính sự liên thuộc như thế đã khiến Đức Quốc mở cuộc tấn công khơi mào cho Đại Chiến Thứ Nhất năm 1914 vì Đức e sợ cả Pháp lẫn Anh không chịu bán thực phẩm, quặng sắt và dầu khí cho mình để phát triển kinh tế. Đây cũng không giản dị chỉ là sự nghi ngờ hoang tưởng bên phía Đức: Cả Pháp lẫn Anh đều công khai thảo luận việc cấm vận trước khi chiến tranh bùng nổ, rất giống đường lối các phân tích gia ngày nay như ông T.X. Hammes thuộc Đại học Quốc phòng đưa ra khuyến nghị “bóp nghẹt kinh tế” Trung Quốc trong trường hợp biến cố xung đột xảy ra.

Học giả Aaron Friedberg thuộc Đại học Princeton có đưa ra vài ghi nhận dè dặt đáng nhắc lại nơi đây: “Những quốc gia có quan hệ giao thương tốt không nhất thiết trở thành đối tác chiến lược và chính trị tốt; lịch sử chứng minh điều đó, những quốc gia có quan hệ giao thương tốt lại thường đi đến chỗ gây chiến với nhau.”

Về tranh nghị các quốc gia không dám mạnh tay vì nguy cơ chiến tranh hạt nhân sẽ tiêu diệt cả hai phe (7) thì ông Ashley Tellis thuộc viện Carnegie đưa ra lập luận phản bác như sau. Ông nói Trung Quốc ngày nay trên khán trường quốc tế sở hữu một lực lượng nguyên tử khả tín, nguy cơ một cuộc chiến tranh nguyên tử có thể là không lớn, nhưng thật ra nguy cơ một cuộc chiến tranh quy ước lại gia tăng “vì Trung Quốc đã và đang liên tục tiếp thu những khả năng ngăn chặn không cho Hoa Kì nhảy vào trợ giúp các quốc gia bạn ở Á Châu.”

Ông Toshi Yoshihara giải thích tính nghịch lí “bình ổn-bất bình ổn” nằm bên dưới nguy cơ ấy như sau: “Nếu Trung Quốc có khả năng áp đặt chiến lược chống xâm nhập của họ, rất có thể họ sẽ tạo được một không gian chiến lược để chĩa mũi tiến công trong một cuộc chiến tranh quy ước tại vùng biển Á Châu. Và do đó, có vũ khí nguyên tử trong tay không nhất thiết có nghĩa là đảm bảo không có chiến tranh. Nó chỉ giản dị mở ra khả thể cho những loại chiến tranh khác.”

Nếu chúng ta không thể trông mong vào mối quan hệ hỗ tương kinh tế, vào sự liên thuộc giao thương, vũ khí hạt nhân cũng không làm Trung Quốc giảm bớt hung hăng, vậy còn lại là con đường nào khác khả dĩ duy trì hòa bình? Chắc hẳn có người bảo là thay vì xoay trục sang Á Châu, Hoa Kì nên ở lại nhà và phó mặc vùng đất ấy cho Trung Quốc. Nhưng theo luận điểm của ông Gordon Chang, kí mục gia tạp chí Forbes, thì “tuyến phòng thủ địa đầu của Hoa Kì không phải là Alaska hay California mà là Nam Hàn và Nhật Bản,” và những căn cứ tiền đồn đóng vai trò chiến lược quan yếu trong công tác phát hiện và ngăn chống hỏa tiễn. Ở đây, chúng ta cũng đừng quên Hoa Kì từ hồi nào đến giờ vẫn là một quốc gia sở dĩ hùng cường là nhờ ngoại thương; một Á Châu tự do ra vào là những thị trường thuộc loại phát triển nhanh nhất trên thế giới.

Không chấp nhận giải pháp rút lui vào vòng cô lập, vậy thì chính sách của chúng ta phải như thế nào? Bất kì câu trả lời nào đều phải bắt đầu bằng nhận định sau: Nếu Hoa Kì chỉ tìm cách bắt kịp Trung Quốc theo kiểu “mày một viên đạn, tao cũng một viên đạn” thì kết quả rất có thể sẽ là một cuộc chạy đua võ trang càng lúc càng găng, và rốt cuộc một hoặc cả hai bên cùng kiệt quệ, hoặc sau cùng đi đến chỗ choảng nhau chí tử và tận diệt.

Ông Michael Pillsbury, một phân tích gia thuộc Ngũ Giác Đài đưa ra lời cảnh báo tỉnh táo như sau: “Sẽ chẳng có cách nào ngăn chống nổi một nghìn cái hỏa tiễn chống chiến hạm của Trung Quốc chĩa vào mặt chúng ta. Thế giới chúng ta đang bước vào là thế giới trong đó nền kinh tế của Trung Quốc đã qua mặt chúng ta và đang lớn mạnh để có ngày to gấp hai chúng ta. Điều đó có nghĩa là nếu muốn, họ có thể dễ dàng gia tăng ngân sách binh bị nhằm tập trung vào chúng ta và ngân sách này có thể cao hơn chúng ta.”

Làm thế nào để vị Tổng thống kế nhiệm đối phó với tình trạng Trung Quốc bao vây càng lúc càng quyết liệt đây? Câu trả lời nằm nơi khái niệm mà chính người Trung Quốc gọi là “tổng hợp quốc lực,”(8) một khái niệm có căn nguyên sâu xa bắt rễ từ câu nói nổi tiếng của Tôn Tử, “Không đánh mà làm khuất phục được quân của người, ấy là người giỏi ở trong những người giỏi.”(9) Ông Ngô Xuân Thu (Wu Chunqiu) thuộc Học viện Khoa học Quân sự Trung Quốc thì nói như sau: “Bất chiến tự nhiên thành không có nghĩa là hoàn toàn không có chiến tranh. Chiến tranh mà người ta phải chiến đấu là chiến tranh chính trị, chiến tranh kinh tế, chiến tranh khoa học và kĩ thuật, chiến tranh ngoại giao. Mặc dù sức mạnh quân sự là một yếu tố quan hệ, trong thời bình thông thường nó chỉ được dùng như một lực lượng hỗ trợ.”

Thí dụ, hãy thử xem xét sức mạnh tổng hợp của quốc gia tối cần chỉ để xây dựng những lực lượng quân sự hỗ trợ. Một sức mạnh tổng hợp như thế phải bắt đầu bằng một nền kinh tế mạnh có khả năng vừa sản xuất vũ khí vừa thu thuế để trang trải những khoản kinh phí khổng lồ. Tuy nhiên, để có một nền kinh tế mạnh, quốc gia phải có một lực lượng công nhân viên đắc lực có khả năng làm việc cao độ – và do đó, một nền giáo dục mạnh tương đương.

Cùng lúc, những tiến bộ nhanh chóng về sáng kiến và kĩ thuật chỉ có thể xảy ra trong một hệ thống tài chính dồi dào đầu tư vào các công trình nghiên cứu và phát triển, một chế độ thuế khóa nâng đỡ các hoạt động kinh doanh. Và không nền kinh tế nội địa nào có thể phát triển nếu không có tự do đi vào các thị trường nước ngoài. Để đi vào những thị trường như thế đòi hỏi chẳng những một liên minh mạnh giữa những đối tác mà còn sự tự do hải hành. Điều sau này ngay lập tức bẻ lái tiến trình tổng hợp sức mạnh trở lại trọng điểm hàng đầu là làm thế nào để có một lực lượng quân sự hùng mạnh hầu giữ vững và rộng mở hải không phận cho việc giao thương.

Ông David Lampton, một học giả thuộc Đại học John Hopkins, nói rằng Trung Quốc sẽ tôn trọng Hoa Kì nếu sức mạnh quốc gia của Hoa Kì được duy trì ở đường lối toàn diện như vậy. Tuy nhiên nếu Hoa Kì suy thoái thì sẽ vô cùng khó khăn đương đầu với Trung Quốc.

Song, một quốc gia với một nền kinh tế thịnh vượng, một hệ thống giáo dục hoàn hảo, một trật tự chính trị bình ổn, một kho tài nguyên thiên nhiên phong phú, một lực lượng lao động tốt, mà binh bị yếu kém thì vẫn là miếng mồi ngon cho bất kì kẻ thù địch võ trang đầy đủ nào với ác tâm xâm lấn, chiếm đoạt. Ông Patrick Cronin thuộc Trung tâm Tân Bảo an Quốc gia miêu tả một “lực lượng cân bằng cho thế kỉ XXI” mà Hoa Kì cần có “ở những số lượng cần thiết” để duy trì hòa bình bằng sức mạnh quân sự như sau: “Tôi cần hàng không mẫu hạm, phi cơ, tiềm thủy đĩnh. Tôi cần kĩ thuật tàng hình, tôi cần khả năng tuần tra các tuyến hàng hải. Cùng lúc tôi cần tiếp tục đầu tư vào kĩ thuật tin học, kĩ thuật không gian và phi cơ không người lái, kể cả loại phi cơ không người lái tầm xa bởi vì những kĩ thuật đó toàn là những thứ có thể ‘thay đổi cuộc chơi.’”

Ông Aaron Friedberg thuộc Đại học Princeton cũng tỏ ý quyết liệt không kém khi đưa ra quan điểm phải giảm bớt nhược điểm của những căn cứ tiền đồn của Hoa Kì ở Á Châu bằng một chiến lược tứ giác gồm: làm cho cứng, phân tán mỏng, đa dạng hóa, và tái cấu trúc lực lượng.

“Làm cho cứng” là di chuyển những căn cứ hậu cần và kho vũ khí xuống lòng đất thật sâu, phi cơ cũng thế, tất cả phải được đưa xuống hầm an toàn, rồi đổ xuống hàng tấn xi măng cùng hàng tấn thép để tăng độ cứng của phi đạo, nhà cửa, doanh trại, cầu tầu.

“Phân tán mỏng” là tái bố trí cả căn cứ địa lẫn tàu chiến, làm thế nào để Trung Quốc vấp phải nhiều khó khăn khi nhắm bắn mục tiêu. Thí dụ, ông Toshi Yoshihara đưa ra đề nghị, thay vì duy trì hai căn cứ to đùng sờ sờ trước mắt là Okinawa và Guam thì hãy dùng quần đảo Ryukyu của Nhật Bản và rải mỏng thành một quần thể những căn cứ nhỏ hơn nhiều.

“Đa dạng hóa” là mở rộng những căn cứ và cơ sở sang những quốc gia mà sự có mặt của Hoa Kì chưa đông đảo, như Philippines và Việt Nam. Ông Dan Blumenthal nói như sau: “Nếu giới lãnh đạo Trung Quốc phải suy nghĩ về việc nhắm bắn mục tiêu trên nhiều quốc gia khác nhau, điều đó sẽ khiến họ chùng bước hơn là chỉ vài căn cứ ở Nhật Bản hay một chiếc hàng không mẫu hạm.”

Ông Friedberg cũng muốn xoay bàn chiến tranh bất đối xứng và chiến lược ngăn vùng về phía Trung Quốc bằng phương cách “tái cấu trúc lực lượng.” Về điểm này ông James Holmes đưa ra khuyến nghị không dựa vào hạm đội tác chiến hàng không mẫu hạm nữa, vốn là bảo bối của các sếp lớn Hải quân nhưng nằm ỳ trên biển cả cho người ta bắn như vịt trời, mà nên dựa vào hạm đội tiềm thủy đĩnh lớp-Virginia chuyên tấn công, bố trí tại những điểm nghẽn trọng yếu dọc theo hai tuyến mắt xích quần đảo thứ nhất và thứ hai.

Về các hệ thống vũ khí khác, một trong những vấn đề lớn nằm trong chương trình nghị sự của vị Tổng thống nhiệm kì sắp tới có lẽ là một chiếc oanh tạc cơ chiến lược mới. Hôm tháng Mười vừa qua, công ti Northrop Grumman kí một hợp đồng 21,4 tỉ đô la để điều nghiên dự án cho ra đời một chiếc oanh tạc cơ mới. Nhưng câu hỏi chưa được trả lời là cuối cùng sẽ có bao nhiêu chiếc, và người kế vị ngồi trong Tòa Bạch Ốc năm 2017 sẽ phải dứt khoát trả lời câu hỏi này. Ông Michael Auslin thuộc Học viện Kinh doanh Hoa Kì là người ủng hộ dự án, ông nói:

“Chiếc oanh tạc cơ B-52 mới nhất của chúng ta cũng đã 50 tuổi rồi và chúng ta có đến ba thế hệ – ông, cha, con – cùng lái một chiếc phi cơ. Đấy là loại phi cơ tốt, nhưng chúng không thể nào thoát hiểm khi phải đương đầu với những hệ thống phòng thủ hỏa tiễn tự động ngày nay. Thêm vào đó, chúng ta chỉ có vỏn vẹn 20 chiếc B-2, và chúng cũng chẳng mới mẻ gì. Bởi thế chúng ta cần chế tạo và sản xuất một loại oanh tạc cơ mới, và thật nhiều chiến đấu cơ F-35 để khai quang mặt đất và bầu trời trong trường hợp cần thiết. Chúng ta cần làm việc này bởi những lí do quân sự cũng như chính trị. Nó sẽ giúp đem lại sự bình ổn cho Á Châu nhiều hơn chứ không kém đi.”

Nhìn xa hơn những bước cụ thể này, Giảng viên Phillip Karber thuộc Đại học Georgetown kêu gọi một chính sách “phản ứng đối ứng” kiểu vis-à-vis đối đầu với Trung Quốc: “Các ông tính chuyện tài binh cắt giảm lực lượng đi, lúc đó chúng tôi cũng sẽ cắt giảm lực lượng của chúng tôi. Còn các ông chủ trương gây hấn có những hành động như sản xuất thêm hỏa tiễn và đe dọa các căn cứ cùng đồng minh của chúng tôi thì chúng tôi sẽ có phản ứng ngay.”

Trớ trêu thay, những lời răn đe như thế nhắc nhở đây là thời điểm tốt để bắt tay với  đồng minh, song những lời hứa hẹn suông và những quan hệ bị bỏ quên đã làm phung phí cơ hội một cách liều lĩnh và ngu xuẩn.

Cứ nhìn vào sự thất bại của chính sách “xoay trục” sang Á Châu của chính quyền Obama thì biết. Được long trọng đề xuất năm 2011, theo dự kiến, Ngũ Giác Đài sẽ gia tăng 60 phần trăm tổng số chiến hạm thuộc hạm đội Thái Bình Dương. Tuy nhiên, vì hạm đội ấy càng lúc càng thu nhỏ nên vào năm 2020 tổng số chiến hạm Hoa Kì trong vùng sẽ ít hơn con số lúc chính sách được công bố năm 2011. Ông James Holmes mỉa mai, “Cứ xét những tín hiệu ngoại giao và ngăn chặn thì chuyện xoay trục xem ra có vẻ như trò trẻ con chơi bóng.”(10)

Ông Pat Mulloy, cựu thành viên của Ủy ban Xét duyệt Kinh tế và An ninh Mĩ-Trung, còn đi xa hơn một bước khi ông phê bình chính sách “xoay trục” xem-quân-sự-là-chính của Tòa Bạch Ốc. Ông bảo chiến lược xoay trục ấy để lộ ra sự thiếu hiểu biết cơ bản của Hoa Kì về yêu cầu bức xúc tái thiết sức mạnh quốc gia tổng hợp. Ông đưa ra nhận định sau: “Tổng thống bảo chúng ta phải xoay trục sang Á Châu vì Trung Quốc đang vươn lên. Nhưng Trung Quốc vươn lên vì chúng ta để cán cân mậu dịch nghiêng hẳn về phía Trung Quốc. Do đó, phải chăng sẽ hợp lí hơn nhiều nếu chúng ta quân bằng cán cân ấy bằng cách chấm dứt ngay tình trạng giới tiêu thụ Mĩ tiếp tục nuôi cho Trung Quốc đi lên? Đấy mới là phương cách xoay trục sang Á Châu thật sự thông minh.”

Để chống đỡ một cách hòa hoãn những thách đố khó khăn về các vấn đề kinh tế và an ninh nghiêm trọng gây nên bởi sự tiến bộ nhanh chóng của Trung Quốc, trước hết phải có sự đồng thuận chính trị. Tuy thế, sự đồng thuận như thế rất khó thực hiện trong một nền dân chủ mở nơi những nhóm tranh giành ảnh hưởng kinh tế chia nhau đặc quyền trong việc buôn bán với Trung Quốc, những nhóm “chính trị hành lang” sẽ tranh giành lẫn nhau chứ không chịu ngồi chung bàn để cùng hướng về một mục đích chung. Thêm nữa, trong khi chính phủ độc tài Trung Quốc có toàn quyền dùng báo chí truyền thanh truyền hình làm cái loa cho luận điểm của mình thì giới truyển thông Tây phương và các trường đại học Hoa Kì đều tự áp đặt một chế độ kiểm duyệt.

Sự thật là, “căn nhà chia rẽ” này đã từ lâu giải thích tại sao các nền dân chủ Tây Phương, nhất là Hoa Kì, đã tỏ ra vô cùng chậm chạp phản ứng lại một Trung Quốc hận thù ấp ủ nhất quyết tiến lên chiếm lĩnh vai trò độc bá thế giới.(11) Tuy nhiên, nếu tình trạng vùi-đầu-xuống-cát này tiếp diễn mãi thì kết cuộc của câu chuyện e là rất tệ.

Để đọc nguyên tác, xin truy cập vào trang mạng dưới đây:

http://www.worldaffairsjournal.org/article/crouching-tiger-china-acts-america-dithers

––––––––––––––––––

Chú thích của người dịch:

(1) Thucydides Trap: Nhà chính trị học người Mĩ Graham Tillett Allison (sinh 1940) đề xuất thuật ngữ này để ám chỉ nước cờ một quốc gia đang tiến lên địa vị hùng cường (như Trung Quốc) lừa bẫy bằng cách gây mối quan ngại cho một quốc gia khác hùng mạnh và độc bá từ lâu (như Hoa Kì). Từ quan ngại sẽ dẫn đến vận động chiến tranh. Allison mượn điển tích cuộc chiến giữa hai trung tâm quyền lực thời cổ đại Hi Lạp là Athens và Sparta.

(2) Ý thức này được nhà văn Lỗ Tấn dùng làm mô-típ chính trong cuốn truyện vừa Ah Q chính truyện viết năm 1921. Nhân vật Ah Q lúc nào mở miệng cũng chê bai kẻ khác nhưng bị tất cả mọi người trong làng từ trên xuống dưới làm nhục mà tự mình thì không biết nhục. Ah Q là ẩn dụ ám chỉ một nước Trung Hoa phong kiến hèn kém bị liệt cường xâu xé, làm nhục. Ý thức này ăn sâu tâm khảm người Trung Quốc suốt hai thế kỉ qua.

(3) Bãi đá ngầm Macclesfield Bank người Trung Quốc gọi là Trung Sa (Zhongsha) quần đảo, và bãi cạn Scarborough Shoal của Philippines là Hoàng Nham Đảo (Huángyán Dăo).

(4) Thuật ngữ quân sự “chống xâm nhập” và “ngăn vùng” được tạm dịch từ cụm từ tiếng Anh “anti-access” và “area-denial”, thường được viết tắt là A2/AD.

(5) Hệ thống lực đẩy không tùy thuộc không khí (Air-independent propulsion systems), tiềm thủy đĩnh chạy bằng dầu cặn và điện lực trang bị hệ thống máy móc hiện đại này có khả năng lặn dưới biển lâu hơn.

(6) Southern Tibet.

(7) Nguyên vế câu văn này dịch thoát từ thuật ngữ chính trị “nuclear deterrence”, một chủ thuyết quân sự đề xuất vào thời kì Chiến tranh Lạnh giữa Hoa Kì và Liên Xô. Vì sức tàn phá của bom hạt nhân là vô cùng khủng khiếp, do đó theo chủ thuyết này, một lực lượng nguyên tử nhỏ yếu hơn vẫn có thể cầm chân được phe địch nếu lực lượng được bảo vệ kĩ càng, không bị thiệt hại nặng nề trong một cuộc tấn công bất thần. Nó là chiến lược ngăn ngừa, răn đe phe địch không được vọng động vì nếu chiến tranh nguyên tử xảy ra thì cả hai cùng chết. Ý niệm hệ quả của chủ thuyết này là MAD (Mutual Assured Destruction).

(8) “Tổng hợp quốc lực” là một khái niệm mới, gần đây luân lưu khá sâu rộng trong giới lãnh đạo và học giả Trung Quốc, dịch sang tiếng Anh là Comprehensive National Power. Khi dịch sang tiếng Việt, tôi trở lại Trung văn dưới dạng Hán-Việt.

(9) Trong nguyên tác, vế câu tiếng Anh là “to subdue the enemy without fighting is the acme of skill.” Khi dịch sang tiếng Việt, thay vì dịch sát nguyên văn, tôi mượn câu văn trong thiên Mưu Công của Tôn Tử Binh Pháp. Trong phép dụng binh, Tôn Tử nhấn mạnh đến mưu mẹo chiến lược để chống địch chứ không chủ trương dùng sức mạnh quân sự. Tôn Tử mở đầu thiên Mưu Công với câu nói: “Phàm dụng binh chi pháp, toàn quốc vi thượng, phá quốc thứ chi,” mà có thể hiểu là “Trong phép dụng binh, khiến cho toàn bộ nước địch đầu hàng là thượng sách, còn đánh cho tan tành nước ấy chỉ là thứ sách.”

(10) Ông Holmes dùng cụm từ “bush-league” để mỉa mai chính sách “xoay trục” Á Châu của chính quyền Obama. Bush-league là tên gọi chung các liên đội bóng chày của thanh thiếu niên Mĩ.

(11) Ở đây tác giả sử dụng thuật ngữ “revanchist” để gọi đích danh Trung Quốc. Nguyên vế sau câu văn tiếng Việt này tán rộng ý nghĩa của thuật ngữ. “Revanchism” (từ gốc revanche tiếng Pháp có nghĩa là trả thù) là một chủ thuyết chính trị kêu gọi lòng yêu nước để phục hưng quốc gia, tinh thần dân tộc, sự thịnh vượng, v.v…  sau khi bị thua trận, mất đất đai vào tay ngoại nhân. Gọi Trung Quốc là revanchist, trong mắt nhìn của tác giả, Trung Quốc sẽ không từ bỏ bất cứ phương tiện nào để đạt vai trò độc bá trên thế giới vì tâm thức “Thiên triều” và mối thù suốt trên thế kỉ bị Tây phương và Nhật Bản giày xéo.

 

Posted in Translation | 1 Phản hồi

Virginia Woolf: Căn phòng riêng

Căn phòng riêng

Tiểu luận văn học của Virginia Woolf

Trịnh Y Thư dịch

NXB Tri Thức

Tái bản lần thứ nhất – 2016

Tìm mua tại các tiệm sách hoặc đặt mua trực tuyến qua nối kết sau:

http://nxbtrithuc.com.vn/Danh-muc-tu-sach/2654744/393/Can-phong-rieng.html

cpr_pic1cpr_pic2

Posted in My Books | 3 phản hồi

Jim Harrison: Legends of the Falls (Huyền thoại mùa thu)

JimHarrison

Nhà văn Jim Harrison (1937-2016)

 

Nhà văn Mĩ Jim Harrison vừa tạ thế hôm 26/3/2016 vừa qua. Cái chết của ông đã là cái tang lớn cho văn học Mĩ nói riêng và văn học thế giới nói chung. Nhân dịp này hôm 8/4/2016 đài phát thanh RFi (Pháp quốc) đã có một buổi nói chuyện chớp nhoáng do phát thanh viên Thành Hà thực hiện với nhà thơ Trịnh Y Thư để nói về tác phẩm nổi tiếng nhất của Jim Harrison, cuốn truyện vừa “Legends of the Fall”, mà dịch sang tiếng Việt là “Huyền thoại mùa thu.” Xin truy cập vào trang mạng dưới đây để theo dõi cuộc nói chuyện ấy:

http://vi.rfi.fr/quoc-te/20160408-nha-van-jim-harrison-tieng-noi-tu-long-dat

Thanh Hà: Xin chào nhà thơ Trịnh Y Thư, xin anh nói sơ lược về cuốn truyện vừa “Huyền thoại mùa thu” của nhà văn Jim Harrison. Anh thích tác phẩm này ở chỗ nào? Anh đến với cuốn truyện ấy và Harrison vào thời điểm nào và trong hoàn cảnh nào … ?

Trịnh Y Thư: Kính chào quý thính giả của đài RFi, xin chào chị Thanh Hà. Thú thật với chị là tôi tìm đọc cuốn truyện này của nhà văn Jim Harrrison sau khi thưởng thức cuốn phim dựa trên tác phẩm. Cuốn phim thật hay, hình ảnh đẹp, nhiều cảm xúc, nhưng đọc truyện tôi mới thấy thấm thía ý nghĩa và thông điệp tác giả muốn gửi gắm đến chúng ta. Bối cảnh không gian của truyện là miền đồi núi trùng điệp bao la của bang Montana, Bắc Mĩ. Bối cảnh thời gian khởi đi từ những năm cuối của cuộc Đệ Nhất Thế Chiến và trải dài nhiều thập niên. Cốt truyện xoay quanh gia đình Đại tá William Ludlow. Ông là một điền chủ có ba người con trai: anh cả Alfred, thứ Tristan và út Samuel. Cả ba xung phong đầu quân sang châu Âu chiến đấu và chẳng may Samuel tử thương trong một công tác thám báo. Alfred bị thương chân, trở về quê nhà theo đuổi sự nghiệp chính trị và trở thành một Thượng nghị sĩ, nhưng Tristan với bản chất nổi loạn, tính khí liều lĩnh không ai bằng, đã trải qua nhiều năm tháng sóng gió ba đào. Cái chết của người em trai chỉ khiến anh thêm phẫn uất. Anh kết hôn với Susannah, con gái một gia đình thượng lưu, và là hôn thê của Samuel, nhưng chưa kịp làm đám cưới thì Samuel đã tử trận. Lúc đầu Alfred tỏ tình với Susannah nhưng cô không chịu vì cô trót yêu Tristan rồi. Nhưng Tristan như bị thôi thúc bởi một xung động không kìm chế nổi, anh chỉ ở với vợ mới cưới chưa đầy ba tháng là bỏ nhà ra đi và suốt bảy năm trời ròng rã anh vượt hết đại dương này sang đại dương khác. Anh chỉ quay về nhà khi nghe tin cha mình bị đột quỵ. Trở về nhà ở điền trại Montana, lúc này Susannah đã kết hôn với Alfred. Tristan chấp nhận chuyện đó và lấy Isabel Two, cô con gái người quản gia, làm vợ. Susannah tuy đã lấy Alfred nhưng vẫn yêu Tristan tha thiết, vì chuyện này mà anh em suýt đi đến chỗ giết nhau. Tristan có hai con với Isabel Two. Thời kì Prohibition cấm rượu, anh đi buôn rượu lậu và trong một chuyến buôn có Isabel Two đi theo, anh bị công an chận bắt và chẳng may Isabel Two trúng đạn chết ngay tại chỗ. Cái chết của Isabel Two càng khiến anh điên cuồng và anh thẳng tay giết bất kì kẻ nào cản bước chân của anh, trong đó có hai anh em người Ái Nhĩ Lan. Người em thứ ba tìm đến tận nhà anh để trả thù nhưng chưa giết được anh thì đã bị Đại tá Ludlow bắn chết. Vào thời điểm này, Susannah bị chứng trầm cảm. Mối tình tuyệt vọng với Tristan không thể xóa nhòa trong tâm tư cô, và cuối cùng cô tự tử. Alfred liệm xác cô vào hòm rồi gửi về nhà để chôn cất bên cạnh trái tim của Samuel và Isabel Two. Sau vụ này, gia cảnh tan nát, Tristan một nữa phải bỏ xứ ra đi. Anh lưu lạc nhiều năm ở Cuba và cuối cùng chết già ở Alberta, Canada.

Thế giới truyện của “Huyền thoại mùa thu” tàn bạo, đen tối, nhiều người chết những cái chết oan khiên, nhiều chi tiết khiếp đảm, như đoạn Tristan bò ra chiến trường tìm xác chết Samuel đoạn mổ ngực móc quả tim ra để đem về chôn tại đất quê nhà. Gấp lại cuốn sách, ấn tượng trong lòng tôi là: cuộc sống này là một bi kịch, bi kịch lịch sử và cả bi kịch do chính con người gây nên. Những quan hệ yêu thương, thù hận thường được sai khiến bởi một xung lực mà kết cuộc thường đi đến chỗ gãy đổ, tang thương thay vì hàn gắn và hòa hợp. Sống là mưu tìm hạnh phúc, nhưng hình như chúng ta lao đầu vào khổ đau nhiều hơn. Cuốn sách của nhà văn Harrison, tuy chỉ vỏn vẹn hơn 80 trang giấy, nhưng theo tôi đã là một thông điệp yêu thương đầy ý nghĩa cho cuộc nhân sinh.

Thanh Hà: Theo anh, vì sao “Huyền thoại mùa thu” lại đi vào lòng người để có được dấu ấn trên văn đàn quốc tế?

Trịnh Y Thư: Trước hết, Jim Harrison ở đây là một người thuật chuyện. Ông thuật bằng một bút pháp đặc biệt hiếm có. Giọng văn ông giản dị, giữa mạch văn không hề chen vào những ý niệm siêu hình hay trừu tượng, mà mạnh mẽ như những nhát búa chém lên mặt đá. Thứ hai, cốt truyện lôi cuốn, đã đọc vài trang đầu rồi thì không thể buông sách ra được. Và thứ ba, quan trọng hơn cả, là cái thông điệp nhân sinh mà ông gửi gắm đến người đọc.

Thanh Hà: Không thể nói về “Huyền thoại mùa thu” mà không nói đến tác giả Jim Harrison và vị trí của ông trên văn đàn Mỹ. Nhờ đâu ông được xem là một đại thụ của văn học Mỹ và thế giới, ngang tầm  với Hemingway hay Faulkner?

Trịnh Y Thư: Vâng, đúng vậy, thưa chị. Cùng với Saul Bellow, John Updike, Philip Roth, Toni Morrison, Joyce Carol Oates, Tim O’Brien và nhiều nhà văn danh tiếng khác, Jim Harrison đã định hình cho một diện mạo phong phú, đa dạng cho nền văn học văn xuôi Mĩ vào nửa sau thế kỉ XX. Điểm vượt trội của ông là chỗ ông đã kiên trì theo đuổi tiếng nói của mình trong suốt bấy nhiêu năm viết. Nhưng tiếng nói ấy là gì? Nó chính là tiếng nói từ lòng đất của quê hương ông. Và lòng yêu thương vô bờ bến của ông đối với đất nước ấy, nhất là phong cảnh thiên nhiên mà ông cho là không nơi nào đẹp bằng, đã giúp ông dốc hết năng lực và tâm tư mình vào những trang viết. Jim Harrison còn là một thi sĩ và ông đã sống trọn vẹn kiếp người cho văn chương. Chừng đó thôi cũng đủ cho chúng ta ngưỡng mộ và kính phục ông rồi.

Posted in Articles, Uncategorized | 1 Phản hồi

Into The Gate of Imagination

three_poets

Poems of Lưu Diệu Vân, Lưu Mêlan & Nhã Thuyên, Vagabond Press, Asia Pacific Poetry Series

Reviewed by Trịnh Y Thư

It is quite an inspirational surprise to see a beautiful book of poetry, in which not one, not two, but three Vietnamese female poets concurrently share their creative arts. Of course, I’m talking about the project immaculately undertaken by a group of authors and translators, Vietnamese and non-Vietnamese, to bring forth a volume of poetry written by Lưu Diệu Vân, Lưu Mêlan and Nhã Thuyên, the three emerging poets whose names have become increasingly familiar with poetry lovers inside Viet Nam and abroad. Being unable to follow the circle of many Vietnamese writers and poets living in the United States, let alone the world, who over the years have produced a significant amount of fiction and poetry written in English (an inexcusable culpability that you can blame entirely on me), I have the uttermost pleasure reading this book, a pleasure stemming not only from its extremely rich contents but also the circumstances from which it arises. I’m forced to ask myself some basic questions. Firstly, all three aforementioned poets were born after the war – two in their 30’s and one in her 20’s. So, are they too young to write such verses? I guess not, talent and mature age don’t necessarily go together. Secondly, since each one is residing in a different part of the world, can they find a common theme and sing the same song? Yes, they can. Today the world is just a small village, congeniality can be found in any field of humanistic interest. And third, what is the ultimate goal they all strive to achieve in their impeccably complex voices? The answer cannot be simpler: Imagination.

The poems found in this anthology are neither profound nor philosophical in the most uncompromising sense of the terms; rather, they represent the deep feeling of the self and the sharp-witted awareness about one’s own surrounding and condition. They are very modern in the sense of expressing oneself with the utmost intimacy and giving the insights into the different varieties of the artistic temperament. They don’t lack the lyrical quality that has long established as one of the pillars of Vietnamese poetry, but at the same time, they exhibit a tremendous endeavor to go forward trying to escape the cliché of platitude and banality that for so long enfetters its entrance into a world of extraordinary and fantastic imagination. Reading these poems, one can certainly perceive the sort of freedom and iconoclasm manifested in the poetic expression and forms. Here, poetry is written mainly for the sake of poetry. Whether it emerges out of aesthetic temperament or cultural repression is quite irrelevant, the point worth to mention is its attempt to de-canonize all previous notions that poetry must carry on its back a sacred mission or serve as a catalyst to cleanse human life. (Fortunately, today many of those who had lived in Utopia were either dead or proselytized.) Instead, it focuses on the emotive and imaginative aspects of the human content, which, in any case, should be considered as the most sublime intent as far as literature is concerned.

This anthology, thus, could very well be considered as an unequivocal divergence from Realism, Romanticism, Socialism, Patriotism, Sentimentalism and many other isms that had for so long predominated Vietnamese poetry. The trend has actually taken shape for awhile, becoming more noticeable in the Diasporas at first then gradually permeated back to the country in the form of samizdat since it is strictly forbidden by the Communist authority, any violation would be ruthlessly persecuted. There are many compelling reasons for that renaissance in poetry, both subjectively and objectively, but it would take some young talents, like the trio in this book, to get the messages through.

*

Lưu Diệu Vân, the reluctant non-conformist

You can say Lưu Diệu Vân’s poems are interesting because of her skillful and exquisite usage of imagery.  In fact, it’s a tour-de-force. In almost every single poem, one could find an intriguing effect created by the peculiar choice of words that she inserts at the right place and the right time. The lyrics are song-like but abstract, a rather strange combination, thus, emitting the mystics that can be attributed to the feeling of uncertainty. There is nothing absolute here. Nothing is definitive. Nothing is consummate. The inner self is examined within the precarious surrounding for she is quite self-conscious about the relationships, not only between interconnecting individuals but also between individual and his/her environment.

Except for the poem “my 1975 story”, which sounds almost like an autobiography, most of Lưu Diệu Vân’s poems touch many facets of the intricately multiple-sided prism of life, from romantic relationship to ideology, from feminism to politics. As she confronts what Milan Kundera called the existential problems, she would make no attempt to hide her true feeling of frustration, indignation, vexation, and even rage. In the poem “ultraconservative”, what the whole nation had worshiped for thousands of years, she took down as “a sprinkle of pink blood” on that nasty “white cloth of chastity.” What’s more, along with the poem “dead philosopher’s apologia”, she declared war against the ideology that had oppressed women throughout history in her country. She is now enraged at the stupidity that nobody seems to care or notice. What is she going to do? Will she blow the trumpet and reach out to her allies to engage directly in that Quixotic fight to tackle the impossibility? Will she stand up to be in the frontline of the battle against gender discrimination that has lasted for centuries in her fatherland? Well, I don’t know, maybe not . . . Why not? Because I see her as she is standing there alone in that ancient capital city wondering about her identity, her place in the landscape of forgetting. She seems to be lost. To her, the question about one’s identity seems quite troublesome since she is tormented by her cultural heritage and at the same time unable to find any empathy with the present. She just can’t understand why people “worship the preserved giant turtle like dear ancestors.” Ah! Please stay right there, yes, precisely, at 11 Ramie street. That must be it! That absolute, undiminished, unbreakable, indestructible symbolism, the abyss between her and the historical heritage forever separates her inner self from reality. Irreconcilable. At variance. Absolutely incompatible. How can you intellectually connect to the people who worship idol, especially that idol is a murderer? How can you communicate and interface with those who possess what Czeslaw Milosz called “The Captive Mind?” Perpetual capitulation, right? Exactly. Poor Milosz, the poet of the century; he wrote that fabulous book in 1953, but nobody in Viet Nam at that time (and even now) seemed to care, and because of that headstrong and impetuous ideology, more than half a century later poor Lưu Diệu Vân found herself unconnected, totally detached with her own root right at the heart of the thousand years old fortress. Her idiosyncrasy is at odds with the land, where “the smiling leaders shake hands on giant billboards”, where the ugly thugs have been shamelessly “extolling a victory that no history book validates” (except for those written by them). The poem “dolls and bicycles” is not a political statement; rather, it’s an aspiration longing for the judgment day that may never come.

Many of Lưu Diệu Vân’s poems in this book deal with the inner self. Fathoming the self ultimately leads to sensuality. As far as she is concerned, self-consciousness must count sensuality as the central theme in the symphony of life. That theme dominates her outputs to a point where almost all allusions to love have something to do with the way she would feel as a woman. But there exists a paradox in her view of love. The poem “falls” starts out with some nice, innocent images like, “diaphanous petals stem auburn sun wings” and ends with an orgy, where the act of love-making is explicitly spelled out, “virile ink / her body / ejaculates his imprint” in the last stanza. The trouble here arises from the fact that in the same poem, she expresses her indifference to love, “the presence for love should never be questioned / or the lack thereof.” Obviously, it’s quite frustrated for her to find love, and frustration becomes exasperation in other poems like “post-feminism” or “dual therapy.” One might wonder: Is there a paradox here or it’s just one of the inscrutable and inexplicable facets of modern times? Are we currently living in an epoch where love no longer exists? What’s wrong with this world now? No, no, relax, my dear friend! Listen, there is nothing to worry about, these question have been asked since the dawn of mankind, and you’re not going to get a satisfied answer now or anytime soon from anyone, not even the poet. Perhaps, you’ll never have the answer. Or, just calm down and listen to Woody Allen, who said:  “Love is the answer, but while you’re waiting for the answer, sex raises some pretty interesting questions.”

Next time you see Woody Allen, perhaps you can show him some of Lưu Diệu Vân’s poems.

Yet, Lưu Diệu Vân’s poems are full of humor and sarcasm. But it’s not the kind of humor or sarcasm to amuse or to entertain someone. It’s her artistic temperament toward the paradox of things, and the emotional content in the humor is always intense. Even though the language in these poems at times can be a little more cheerful, it’s not something light-hearted or trivial so as one can take it as a joke. The little whimsical poem “introducing a new product” is quite amazing. At almost every single line, I couldn’t hold back my laughter, especially, at the lines “a woman’s vagina / is for inspecting quality.”

As we can see, Lưu Diệu Vân is a versatile poet. She’s at ease with almost any topic that touches her heart, and one should not be surprised to see her exploring many aspects of the human condition with emotion and sensitivity. Her thoughts may not be deeply profound but her feeling is intense, and that is the most important quality of a true poet. The prominent Vietnamese writer Võ Phiến, who just recently passed away at the age of 90, once said, “A writer is the one who falls in love with life.” Lưu Diệu Vân is a poet who is passionately in love with life; but at the same time, she is repulsed and alienated by the conventionality and morality of the norms. What else could she be but a reluctant non-conformist?

*

Nhã Thuyên, the incurably melancholy dreamer

If Lưu Diệu Vân is an extrovert then Nhã Thuyên can be considered as an introvert. If Lưu Diệu Vân explores the inner self against the backdrop of her own seemingly realistic environment, Nhã Thuyên is doing it against the unrealistically immense space of emptiness. The eyes are seeing nothing but darkness; the voices are sucked into the expansive void without any echo. In the poem “body menu” reality is depicted as a dream-like landscape, where “the road is like a chunk of fish cut lengthwise, holes and mounds filled with blackened, variegated fish blood.” Almost in every single poem in the book, imaginations are stretched out but they always allude to the limitation of the self, which is inherently fragile and feeble. How can it be strong and devoted in an “absent existence,” where “some face like yours is conversing while scraping itself empty so that a bunch of eyes panic in search of each other”? The absent existence looms so vast and frightful that darkness seems to be everywhere, from here to eternity, in which, only dreams are perceived. Dreams after dreams. She would dream of Death and Love, as if only in dreams one could live up to his/her utmost desires. An air of melancholia pervades the lines and suffuses into the soul of the words, creating an undeniably lugubrious and doleful state of mind. Even in dreams she could not escape from the sadness, which seemed forever affix to the interminable solitude. Ironically, it attracted the inner self forcefully, it’s “something fierce and worth waiting for more than death.” I wonder, will something-worth-waiting-for-more-than-death bring joy and happiness or it is the most dreadful thing that one can come up with? In any case, Nhã Thuyên is not looking for an answer whatsoever. Dreams are delusional. Yes, you know that and I also happen to know that. Everybody knows that. But to Nhã Thuyên, it’s the most important thing to help life flourish. Whatever buried in the sub-consciousness must awake and be fruitful. You’ve got to dig yourself out of the limbo. In the poem “a dream of water”, she wrote: “deep beneath there is still no water, there is only an illusion of water, the illusion flows and nourishes the barren land, but one has to dig nonstop.” And what about the solitude that she adores? To answer your question, I’d like to quote Mr. Octavio Paz, the most preeminent Mexican poet, who said, “Solitude is the profoundest fact of the human condition. Man is the only being who knows he is alone.”

Imagery in Nhã Thuyên’s poems tends to be dream-like. In the poem “unfamiliar appearances”, some innocent raindrops poured down in the garden from the autumn sky had become “faces and faces pour impetuously down on the streets.” View of life as commonly discerned in the everyday activities doesn’t exist in her poetry. In fact, it’s almost like meditation, a poetic meditation, if I can use that phrase. “black rain” is a beautiful poem written in this sense. Much of her typical thematic materials and motifs are encountered in this poem –  dreams, darkness, solitude, silence, fear, to name just a few – but it’s not the despair that drives the human content, not the hopelessness, but the belief in oneself, the self-consciousness, the self-determination that finally prevail. What else can you ask for from a poet, my dear friend?

The poetic texture in Nhã Thuyên’s poems tends to be dense and convoluted, particularly in the prose-poems. In addition, the imagery and the metaphors seem to allude to something dream-like, rendering the notion that her words could have come from the sub-consciousness. But can we call her a Surrealist?

Many Vietnamese literature critics, and scholars alike, labeled the two famous poets Hàn Mặc Tử and Bích Khê – who were immensely popular in the so-called New Poetry Movement [1932-1945] in Viet Nam – as Surrealists.

I found it quite unconvincing.

Surrealism, as defined by the pioneers of the movement in the early XX century, defies the literal meanings given to objects; rather, it pivots on the poetic undertones or undercurrents of things that matter. Then, by means of incongruous juxtapositions, it emphasizes the overtones and the connotations, which “exist in the ambiguous relationships to the visual images” to depict reality at “a higher level.” I fail to see any of these features in the outputs of the two revered poets. Moreover, their poems might have had some fantastic, dream-like images, but they had absolutely nothing to do with automatism, which is the foundation groundwork for Surrealism. I also doubt the beautifully rhymed verses in their poems come from the sub-consciousness, let alone the unconsciousness. Rather, they are the imaginations of the consciousness, and calling them Surrealist poets is just flat wrong. They were wonderful poets, who possessed excessive literary talents, pioneering in a sense, and whose poems had remained forever in the heart of any Vietnamese poetry lover. Period. Labeling them Surrealist just doesn’t make their beloved poems any better.

The same is true with Nhã Thuyên. In the set of the prose-poems, one is confounded by her staggering effect of the language. I did not read her original poems in Vietnamese, never have, (frankly, this is a regret that I couldn’t forgive myself), but perhaps one would think the language used in this form of artistic expression is the best tool to bring out the procession of thoughts  buried deeply in the sub-consciousness. Actually, it was the poet Hoàng Trúc Ly, who experimented with this form of poetry with high degree of success before 1975 in South Viet Nam, and lately it was brought to a new level by the poet Nguyễn Hoà Trước. Here, the shaping of the Vietnamese language is pushed to its farthest limitations in terms of innovations and colorizations. It’s a metamorphosis, a tour-de-force of language transformation, where it is culminated to the purest form. However, the question is: Do we have any hope deciphering the meanings behind the seemingly mesmerizing lines in these poems, or rather, it belongs to the realm of metaphysics (or something like that for the lack of terminology), and the door leading one to enter its world is through intuition, without any conscious reasoning? I have the tendency leaning toward the latter, although I do know that the raw stuffs coming out of the sub-consciousness – not filtered, not artistically altered by the consciousness to carry some weight – are interesting only to the psychiatrists or the psychologists; they can hardly be called poetry, let alone art. Some people within the Vietnamese literature circle called it Language Poetry, but I found the term misleading. The poetics attributed to a “Language” poet is to relegate the task of interpretation his/her poem to the readers so as it can achieve a sphere of multiple dimensions, while in those prose-poems, mixed with Vietnamese flavor, the meanings, albeit ambiguous, are quite subjective and non-oblique.

All these arguments take me back to the prose-poem entitled “traces of nothing” by Nhã Thuyên in the book. To read it is to enter the world of imaginations. But beneath all those fantastic imageries and allegories, all that seemingly convoluted language, all those interior monologues, her stream of thoughts are perfectly clear. Here, once more, all the familiar thematic materials come into view like a recurring nightmare, and against that backdrop, loom memories, love, loss, and the endless reasoning for existence, or more accurately, non-existence. There is a sense of despair here, quite negative compared to “black rain.” The poem ends with the line “and I sink down forever down to where it’s wet, until all is absolutely empty and I will not come back.” And below the line there is a circle drawn out that could symbolize a situation of entrapment. Or, perhaps, a noose? In any case, one could only think of it as a sense of hopelessness.

The poet Dylan Thomas once said: “Poetry makes you know that you are alone in the unknown world, that your bliss and suffering are forever shared and forever all your own.” And that is exactly the point I want to make about Nhã Thuyên’s poetry.

*

Lưu Mêlan, the pitiful idealist

Lưu Mêlan looks at life around her through a magnifying glass, she must see something horrifying, for she turns around toward us with a grimacing countenance out of disgust, eyes wide open, and voice trembling. Yes, the world is an ugly ugly ugly place. Welcome to the club!

Compared to Lưu Diệu Vân, and particularly Nhã Thuyên, the poetic texture in Lưu Mêlan’s poems is rather thin. Also, while the semantics of the other two companions at times can be multi-layered, hers is one-dimensional. Her poetic language is straightforward and direct. She would deal with objects literally, not attempting to get into their souls, but borrowing the circumstances as some sorts of connotations to express her feelings. “The Ants” is a typical poem in this fashion. In the poem “Day”, she would take the role of a vigilant observant, using all five senses to explore her environment, then, while sounding like a guarding angel, she would give us a warning about the clear and present dangers of this world. A similar scenario is encountered in the poem called “A Grain of Rice.”  Here, she tells us a fairy tale about one of the most beloved items in the ordinary life of a Vietnamese, a grain of rice. But it is a sad fairy tale and at the end she just wants to hide behind the rice plants because “the world was burying human lives.”

With Lưu Mêlan, one is in direct communications with her soul; whether it’s the fear for the world or the disgrace she would feel for the land she calls home. Yes, like many of us, she is lost in her own country, totally detached from the “people who walk on four legs.” Many of Lưu Mêlan’s poems express her desperation and sorrow for a place that’s supposed to be her birthplace, her beloved country. It has got to a point, where she couldn’t hold back her agonizing anger and pain. This is significant. For a young woman as she is, someone who still has a long path to go in the supposedly productive life, but already loses all hope for the future of the country. Now, that’s just unbelievable! How pitiful! But somehow, her piteous voice is lost, being drowned out by waves after waves of ugly ugly ugly noise.

*

Because of the poetic talents that these young poets possess, the book, although not very voluminous in its physical appearance, should have an impact in the ever evolutionary development of Vietnamese poetry in the modern times, and serve as an excellent introduction to those who are interested in Vietnamese literature. The three poets represent a new generation of Vietnamese writers, the so-called 8X generation. Although they have no direct linkage to the war, it is not correct to say that they’re not at all affected by its ramifications. There are huge issues in the aftermath of the war. And even now, with the path the country is taking, the bankruptcy in morality, the political systems in total decay and corruption, the lack of freedom to express oneself, the vacuum upon an interactive intellectual domain, the inertia against progress and new ideas, the prolonged drought in creativities and innovations, to name just a few, all those are implacably shaping their voices as poets. But, more important, what makes each one of the trio stand out in the crowded field is her unique self-consciousness that would help leveraging an ordinary quotidian stream of thoughts and transforming it to an art form. After all, that’s what poetry is all about.

Their gender not in the least hinders their achievements. This should not be a surprise to anyone who understands the tradition of Vietnamese literature. Although the Vietnamese society in the ancient times, and also in modern times to some extent, suffered the great gender bias and discrimination – you can blame it on the Chinese culture – Vietnamese female writers, from generation to generation, never had much prejudice from their male counterparts or the general population. This can be attested by the fact that, while the Brontë sisters of England had to resort to male pseudonyms in order to publish their poetry and novels, the Vietnamese female poets of the XVIII and XIX centuries like Đoàn Thị Điểm, Bà Huyện Thanh Quan (literally, Lady of The Thanhquan-shire) and particularly Hồ Xuân Hương with her ever fascinating allusions of erotic imagery, were very much respected and held in high esteem by their male contemporaries.

Lưu Diệu Vân, Lưu Mêlan and Nhã Thuyên, the three names I should mark in my note to remember to catch their latest opus. This is the book of the month for my reading. Kudos to the people who had conceived and made it into reality. I know I would go back to it, not once, but many times since it is quite addictive. To me, the habit is dolce sweet.

Posted in Articles | Để lại bình luận

Thơ: Mười bài hài cú chiều cuối năm

Danseuse_joan_miro

La Bailarina – tranh Joan Miro

1.
Chiều cuối năm ngồi chờ
Chuyến xe mãi chưa về bến đậu
Chú sẻ giương mắt nhìn.

2.
Chiều cuối năm xuống phố
Rừng người chẳng nghe ai nói năng
Chỉ thấy hình với bóng.

3.
Chiều cuối năm ra biển
Biển rưng rưng u hoặc nỗi niềm
Dưới chân đùn ụ cát.

4.
Chiều cuối năm lên đồi
Nhìn mây tím vờn quanh rừng trảng
Lặng thinh âm nhạc xanh.

5.
Chiều cuối năm phân vân
Không biết làm sao cho hết kiếp
Vầng trăng non vừa nhô.

6.
Chiều cuối năm nhớ mưa
Mùi cỏ ướt dồng dềnh sương khói
Thủ thỉ vạt đất nâu.

7.
Chiều cuối năm ước hẹn
Bóng đổ dài tường gạch hanh hao
Ríu rít chim về tổ.

8.
Chiều cuối năm nói thầm
Đoá môi đắng xin làm kỉ niệm
Kí ức chợt ùa về.

9.
Chiều cuối năm thơ thẩn
Hạ đông thời gian đỏ tím vàng
Màu quan san chiếc lá.

10.
Chiều cuối năm mình tôi
Nơi góc đời lãng quên hiu quạnh
Ánh tà huy lung lay.

Posted in Poetry | 1 Phản hồi

Thơ: Song of The Night

am_nhac_xanh
Music of the Blues – Oil on canvas by Nguyên Khai

The sleepless nights, the pain
goes on like the snake slinking in the woods.
For my faculty would become what I don’t know,
that stupid duplicitous body I just want to throw away.

Pain pain pain but I just can’t howl like a dog,
not faulting God for making me what I’m,
not blaming Him for forsaking a paltry mortal.

I hate the sound of the ticking clock,
no sound more irksome in the heart of the night.
But listen. I also hear the pipes clanking,
the termites having a feast somewhere,
the fridge gasping for some air,
like a concerto by that exasperating man Béla Bartók
full of rage or something out of this world.

Oh! How bizarre that would make me think
about all the voices I could not bring myself
to admire and love. The murmur of the creek.
The wind wailing from some places afar.
The raindrops on the window-panes
like that piece of music that Chopin wrote.
Or the moaning sound of the woman
whose naked body I amuse myself.

How many voices have escaped me?
The song of the night. Only at this moment
in the bitter clarity of the night when
pain overcoming my dull-witted nerve
do I fully realize the true worth of life.

*

Dạ khúc
 
(Bắc Phong chuyển ngữ từ nguyên tác Song of the Night)

Những đêm thức trắng, cơn đau
âm ỉ như rắn len lỏi trong rừng.
Khi năng lực mình biến đâu không biết,
thân mê muội bất trắc này tôi muốn vứt cho xong.

Đau đau lắm nhưng tôi không thể tru như chó,
không trách Thượng đế đã làm tội tình tôi,
không oán Ngài đã phó mặc một đời tàn vô nghĩa.

Tôi ghét kinh tiếng tích tắc đồng hồ,
không có âm thanh nào đáng bực hơn trong đêm sâu
Nhưng lắng tai. Tôi còn nghe thêm tiếng ống sắt rổn rảng,
tiếng ồn loài mối yến tiệc đâu đó,
tiếng hổn hển máy tủ lạnh lấy hơi,
giống một bản hợp tấu của Béla Bartók ưu phiền
đầy phẫn nộ hay một nhạc khúc ngoại giới đâu đâu.

Ồ! Lạ sao điều đó cũng làm tôi nghĩ
đến tất cả những thứ tiếng tôi đã không sẵn lòng
mến mộ. Tiếng suối chảy róc rách.
Tiếng gió than vãn xa xăm.
Tiếng mưa rơi trên mặt kính cửa sổ
như một khúc nhạc mà Chopin đã viết.
Hay tiếng rên của người đàn bà
khỏa thân cho tôi tìm lạc thú.

Còn bao nhiêu thứ âm thanh đã thoát khỏi tôi?
Dạ khúc. Chỉ ngay phút này đây
trong đắng cay nhận thức
khi cơn đau trấn áp thần trí u mê của mình
tôi mới nhận chân giá trị cuộc đời.

———-
(Chân thành cảm ơn nhà thơ Bắc Phong đã chuyển ngữ bài thơ này — TYT).

Posted in Poetry | Để lại bình luận

Thơ: Cơn mưa mùa đông

DC_RungCam
Rừng câmTranh Đinh Cường

Tôi đã đi qua biết bao cơn mưa mùa đông
ngăn ngắt cánh đồng thảo băng sương phủ
vòm cây buốt nhói lá vàng
để nhận ra niềm cô quạnh bủa vây
chẳng hề có đường ranh giới hạn.
 
Con tàu lao vào mùa đông
tôi không kịp giơ tay vẫy chào
dù không một ai trên sân ga
đứng nhìn theo tôi nuối tiếc.
 
Về nơi chốn nào tôi chẳng biết
chỉ thấy mịt mù trời đất cơn mưa mùa đông
núi đồi đen xám và rừng phong bưng kín
hạt mưa quất lên mặt kính
những thanh âm rầu rầu hôn ám
bám chặt kiếp người.
 
Như tiếng gõ nhắc nhở một định mệnh oan khiên
vang vang lòng vô tận
vết thương quá khứ chẳng bao giờ lành
vẫn không buông tha bóng ma lịch sử.
 
Bao đoạn đường đi qua
ước hẹn tan chìm vào quên lãng
trong mịt mùng kí ức còn lại gì
ngoài câu nói ngu ngơ
và những điều không đáng nói.
 
Câu hỏi ban đầu – tại sao tại sao tại sao
vẫn chưa có lời giải đáp
vẫn gây đau nhức khôn nguôi
và càng mù mờ không hiểu
khi tấm khăn liệm phủ xuống linh hồn.
 

Posted in Poetry | Để lại bình luận