Chân dung TYT

tyt_chandung_al

Chân dung Trịnh Y Thư — Kí họa của nữ họa sĩ  Ái Lan (2016)

Đăng tải tại Articles | Để lại phản hồi

Virginia Woolf: Căn phòng riêng

Một phụ nữ muốn viết văn cần phải có tiền và một căn phòng riêng.

                                                                                        – Virginia Woolf

cpr_pic1

 

Căn phòng riêng, tiểu luận văn học của Virginia Woolf, Trịnh Y Thư dịch,

NXB Tri Thức tái bản lần thứ nhất 2016.

Tiểu sử Virginia Woolf

Adeline Virginia Woolf (tên thời con gái Stephen; sinh 25/1/1882, mất 28/3/1941) tiểu thuyết gia kiêm nhà viết tiểu luận người Anh, được xem là một trong những nhà văn hiện đại lừng danh nhất thế kỉ XX.

Trong thời gian giữa hai thế chiến, bà là một nhân vật có tầm ảnh hưởng rộng lớn trong sinh hoạt văn học thành phố London và là thành viên chính của nhóm trí thức Bloomsbury Group. Những tác phẩm nổi tiếng nhất của bà gồm có Đêm và ngày (Night and Day, 1919), Căn phòng của Jacob (Jacob’s Room, 1922), Bà Dalloway (Mrs. Dalloway, 1925), Đến ngọn hải đăng (To the Lighthouse, 1927), Orlando (1928), Căn phòng riêng (A Room of One’s Own, 1929), Những đợt sóng (The Waves, 1931), Ba đồng tiền vàng (Three Guineas, 1938). Chính trong cuốn Căn phòng riêng có một câu châm ngôn rất nổi tiếng của bà: “Một phụ nữ muốn viết văn cần phải có tiền và một căn phòng riêng.”

Suốt thời gian tại thế, Woolf chịu đựng chứng bệnh tâm thần mà ngày nay được gọi là bệnh rối loạn cảm xúc lưỡng cực. Năm 1941, ở tuổi 59, bà tự trầm mình xuống sông quyên sinh.

Dẫn nhập:

Căn phòng riêng, tiểu luận văn học của nhà văn nữ người Anh Virginia Woolf được hình thành từ loạt bài thuyết trình của bà năm 1928 tại hai trường Newham College và Girton College, hai trường cao đẳng dành cho phụ nữ tại Đại học Cambridge, xoay quanh chủ đề “Phụ nữ và sáng tác văn học.” Cuốn sách không chỉ nói lên tình thế tiêu cực của các nhà văn nữ ở thời kì mà người phụ nữ phải chấp nhận nhiều sự bất bình đẳng và định kiến xã hội, nó còn đề xuất một một cái nhìn tích cực để từ đó xác định vai trò, vị trí và năng lực của phụ nữ trong việc sáng tạo nên những giá trị văn hóa của nhân loại. Ngày nay cuốn sách được xem là nền tảng của Nữ quyền luận, một cao trào tư tưởng lớn ở thế kỉ XX, chẳng những đem lại khí quyển mới trong sáng tác mà cả ý thức đọc và phê bình những tác phẩm văn học viết bởi phái nữ xưa cũng như nay.

Nói chuyện với dịch giả Trịnh Y Thư:

RFI: Tiêu chuẩn cho công việc dịch thuật?

TYT: Với tôi, dịch, nhất là dịch tác phẩm văn học, luôn luôn là thử thách đầy cam go. Ngoài những tiêu chuẩn cơ bản như trung thành tuyệt đối với văn bản nguyên tác, chú trọng đến yêu cầu tiếp nhận của ngôn ngữ dịch, người dịch còn phải cố gắng duy trì càng nhiều càng tốt cái phong cách văn học trong tác phẩm nữa. Chính cái phong cách văn học này trong tác phẩm của Virginia Woolf đã gây khá nhiều khó khăn cho tôi. Cuốn sách mang hình thức một tập tiểu luận, nhưng mặc dù không thiếu những ý tưởng uyên bác, nó không được viết bằng thứ ngôn ngữ hàn lâm lạnh lùng, khô cứng, tràn lan những thuật ngữ văn học khó hiểu vô hồn, mà bằng giọng văn sôi nổi đầy cảm tính chứa đựng niềm xác tín mãnh liệt vào những điều mình muốn chia sẻ cùng người đọc. Woolf là tiểu thuyết gia, bà thường được ghép vào xu hướng sáng tạo văn học có tên gọi là “dòng ý thức”. Tôi không rõ điều này có ảnh hưởng gì lên văn lí luận của bà, nhưng tôi có cảm tưởng, với cuốn Căn phòng riêng, bà đã dốc tất cả tâm tư mình vào đó với tấm lòng chân thành tuyệt đối. Bà viết nó với trái tim nhiều hơn là khối óc; hơn nữa, nó cũng không thiếu những đoạn trần thuật, miêu tả, độc thoại nội tâm như tiểu thuyết. Khi dịch cuốn sách sang Việt ngữ, tôi đã cố gắng duy trì phong cách duy cảm đó trong văn của bà. Điều đó, với tôi, chẳng dễ dàng chút nào, và quả thật tôi không dám chắc mình đã thành công.

RFI: Tiếp cận quan điểm của tác giả, ấn tượng gì?

TYT: Chính cái sôi nổi đầy cảm tính của Virginia Woolf trong tập sách đã gây ấn tượng mạnh mẽ nơi tôi. Bạn có thể không đồng ý với nhiều điều trong quan điểm văn chương của bà (chẳng hạn, thiên tài như Shakespeare không thể sinh ra trong một gia đình tôi đòi, thất học, lao động tay chân; hoặc, phụ nữ viết văn phải có tiền và một căn phòng riêng), nhưng bà không hề khoan nhượng hoặc chấp nhận một quan niệm hòa giải nào, chẳng hạn như khi bà đưa ra lập luận về sự ưu việt của khối óc lưỡng tính. Bà viết như sau trong cuốn sách:

“… Trong mỗi chúng ta có hai năng lực chỉ huy song hành, một nam, một nữ; và trong trí óc người đàn ông, đàn ông chiếm ưu thế hơn đàn bà, trong trí óc người đàn bà, đàn bà chiếm ưu thế hơn đàn ông. Khi cả hai chung sống với sự hòa đồng, trong tinh thần hợp tác, thì trạng thái của hiện hữu là trạng thái bình thường và thoải mái. Nếu là đàn ông thì phần đàn bà trong trí óc ông ta phải có hiệu ứng; và ngược lại, người đàn bà cũng phải giao hòa với phần đàn ông trong trí óc mình… Đó là lúc sự hợp nhất xảy ra và trí óc trở nên phong phú, tận dụng tất cả khả năng của nó…”

Tôi cho đó là sự biểu hiện đặc trưng của nhà văn. Nhà văn như bà, khác với chính trị gia, là người không bao giờ chịu ép mình để đi đến sự hòa giải, vo tròn. Phải chăng bà là người cực đoan, có cá tính mạnh,  chân thành với niềm tin của mình, xem nó như một đức tin tôn giáo? Và phải chăng bởi thế một hôm bà ra bờ sông, bước xuống dòng nước đang chảy xiết và không bao giờ trở về nhà?

RFI: Xin đưa ra một tên tuổi nhà văn nữ hiện đại tiêu biểu?

TYT: Tôi vốn không có thói quen phân biệt nhà văn nam hoặc nữ. Tôi đọc tác phẩm họ viết do ý thích cá nhân nhiều hơn là bởi giới tính của tác giả. Nhưng gần đây tôi đặc biệt yêu thích nhà văn Canada, Alice Munro (giải Nobel văn chương 2013). Văn chương của bà thật là phong phú và sâu lắng. Đọc xong truyện của bà, gấp sách lại, tâm hồn tôi như đổi khác; tôi cảm thấy yêu người, yêu cuộc đời này hơn; và tôi chợt thấy buồn cười cho những phi lí lẫn nghịch lí của đời sống. Tôi đòi hỏi gì hơn thế ở một nhà văn?

RFI: Nghĩ sao về câu hỏi mà chính Virginia Woolf đặt ra trong tác phẩm: “Liệu các nhà văn nữ có thể sáng tạo nên những tác phẩm tầm vóc như của Shakespeare không?”

TYT: Woolf xem Shakespeare (và ở chừng mực nào đó, Jane Austen) là đỉnh cao của nghệ thuật sáng tạo bằng chữ nghĩa. Theo bà, muốn như thế, đòi hỏi nơi người viết một tinh thần vô ngã như vị thánh. Bà chê Charlotte Bronte viết không bằng Jane Austen mặc dù tài năng vượt trội hơn, chỉ vì Bronte đã để cảm xúc cá nhân (cái tôi) chen lấn vào tác phẩm. Nhưng nhìn từ góc độ bình thường, quả tình tôi không rõ đã có nhà văn nào, nam cũng như nữ, viết được tác phẩm tầm vóc như của Shakespeare hay chưa. Có thể đã có nhưng tôi không đủ trình độ để thẩm định điều đó. Tuy vậy, theo tôi, chuyện đó không quan hệ lắm. Cái đáng nói là ở thời đại chúng ta, không còn ai phân biệt hoặc quan tâm đến giới tính của nhà văn nữa. Càng ngày càng có nhiều phụ nữ cầm bút và không ai nghi ngờ tài năng cũng như giá trị tác phẩm của họ.

Để nghe toàn bộ cuộc phỏng vấn, xin truy cập vào trang mạng dưới đây:

http://vi.rfi.fr/quoc-te/20170303-nha-van-virginia-woolf-va-can-phong-rieng

 

Đăng tải tại Articles | Để lại phản hồi

Nguyễn Xuân Khánh: Chỉ là chuyện ngõ nghèo thôi ư?

nxk_bia_cnn

Chuyện ngõ nghèo của nhà văn Nguyễn Xuân Khánh [Công ti Văn hóa & Truyền thông Nhã Nam và NXB Hội Nhà Văn liên kết xuất bản, 2016] không phải chỉ đơn thuần là cuốn tiểu thuyết miêu tả cảnh nghèo khó, cùng bĩ của một gia đình trí thức Hà Nội vào đầu thập niên 80. Kì thực, tầm vóc của cuốn tiểu thuyết lớn hơn thế nhiều, bởi nó đã vượt qua đường biên của những tranh chấp chính trị thấp kém, những ý thức hệ ngông cuồng, những cuộc chém giết bạo tàn, những hận thù chồng chất, và nhất là nó dám trực diện với cái bản ngã vẫn nằm ẩn nấp trong mỗi chúng ta mà bằng cách này hay cách khác chúng ta chối bỏ, không chịu nhìn nhận nó là một phần con người.

Tác giả gọi cái bản ngã ấy là Trư cuồng. Và nếu định nghĩa tiểu thuyết là cuộc truy tìm bản ngã thì cái tố chất lợn cuồng điên ấy đã được Nguyễn Xuân Khánh lật phải lật trái lật ngang lật dọc, đã được đặt dưới ống kính hiển vi cho chúng ta ngắm nhìn, quan sát kĩ càng, tường tận. Không nhìn ra nó, phần lỗi ấy chẳng những bởi thị lực và tâm trí chúng ta yếu kém mà còn vì chúng ta đã tự đóng chốt xây dựng một hàng rào thành kiến che kín lương tri.

Cấu trúc hình thức của cuốn tiểu thuyết là những trang nhật kí mà tác giả gọi là Nhật kí lợn. Phần giữa mang hình thức những truyện ngắn – tác giả gọi là Hành trình vào Hỗn mang – đúng ra, là những giấc mơ trong cơn mê sảng vật vã suốt thời gian đau ốm của nhân vật ghi chép cuốn nhật kí. Đoạn kết Nhật kí lợn là phần ba cuốn sách.

Ở trang sách đầu tiên tác giả giới thiệu nhân vật chính diện của ông như sau:

Nhật kí này là của ông Nguyễn Hoàng; ông Hoàng làm nghề viết báo, kiêm nghề nuôi lợn. Có lẽ, khi làm nghề cầm bút, ông đã phạm một cái ‘húy’ gì đó nên bị thất sủng, phải về nghỉ hưu, tuy chưa đến tuổi . . .”

Qua những trang sách sau đó chúng ta biết ông Hoàng sống với mẹ già, vợ và bốn con trong một căn nhà tồi tàn ở ven đô Hà Nội. Nhà ông Hoàng nghèo, nghèo lắm. Cuộc sống càng ngày càng khó khăn, vật giá leo thang vùn vụt, với số lương hưu èo uột, vợ làm công nhân viên, gia cảnh ông lâm vào tình trạng thiếu hụt cùng quẫn, và như rất nhiều người dân Hà Nội thời bấy giờ, ông xoay ra nghề nuôi lợn. Để tìm kế mưu sinh ông không còn cách nào khác hơn. Sau ba mươi năm đi bộ đội và làm cán bộ nhà nước, tay chân ông chẳng còn sự khéo léo để học một cái nghề nào ra hồn, viết văn thì không được phép xuất bản, dịch cũng chẳng ai thuê (không ai dám dính líu đến người có “vấn đề”), đi buôn hay chạy áp phe cũng không xong vì ông không có cái điêu ngoa, thớ lợ của cuộc sống giành giật từng đồng. Phương án duy nhất còn lại là nuôi lợn. Hơn nữa, ai cũng nuôi lợn kể cả các ông bà quan chức thì có gì xấu hổ đâu. Cũng may nhà ông thuộc vùng nửa quê nửa tỉnh, đằng sau có cái ao bèo nên ông quây được cái chuồng lợn riêng, vợ chồng con cái không phải sống chung với lũ lợn như nhiều gia đình khác trong nội ô, người ngủ bên trên đàn lợn hôi thối suốt ngày đêm ủn ỉn vục vặc đòi ăn.

Sống với lũ lợn còn thấy vui hơn.” Ông Hoàng có hai người bạn thân, Lân và Tám. Lân, một thương binh, nuôi lợn gần như chuyên nghiệp, chính ông là người chua chát buông câu nói ấy. Ông đi nhặt nhạnh tất cả mọi đồ phế thải ngoài đường sá đem về chế biến cho công việc nuôi lợn của ông. Mỗi ngày ông ra bờ sông Kim Ngưu – một con sông tù đọng nước đen xì hôi thối không thể tưởng vì chứa toàn những đồ cặn bã bẩn thỉu nhất kể cả cứt đái của dân cư lao động xung quanh thải xuống – để vớt những miếng lòng lợn thải ra từ lò mổ lợn gần đó. Ông đem những miếng lòng thối rữa về đun lên trộn với cám cho bầy lợn ông ăn. Làm gì có củi đun, ông dùng toàn vỏ xe đạp cũ, và mỗi lần thấy luồng khói đen uốn éo như con rắn từ mái lều gianh ven sông bốc lên, ông Hoàng biết ngay bạn mình đang luyện đan bồi dưỡng bầy lợn. Còn Tám là một giáo viên dạy Sinh vật cấp ba, nhưng tính tình ông gàn bướng, thậm chí hơi bất thường. Có người bảo trí óc ông lệch lạc từ khi suýt chết vì bom Mĩ, nhưng cũng có thể ông bất mãn (cuộc sống ấy kẻ lương thiện không bất mãn mới là chuyện lạ). Đang dạy học, ông xin nghỉ ngang nằm nhà viết sách về lợn mà ông gọi là Bách khoa lợn. Ông Hoàng thi thoảng nhận được một trích đoạn Bách khoa lợn mà càng đọc ông càng khiếp hãi.

Sách vở sử học sau này chắc chẳng có dòng chữ nào viết về chuyện nuôi lợn cực kì bi hài của thị dân Hà Nội thuở đó. Mà chẳng riêng gì Hà Nội, hình như khắp mọi nơi trên đất nước, đó là hình thức thoát đói duy nhất cho người dân lương thiện mà sau này nhớ lại ai nấy vẫn thấy rùng mình khiếp hãi.

Lịch sử thế giới là lịch sử của vài kẻ được ưu đãi.” Nhà văn Mĩ Henry Miller viết như thế trong cuốn Chủ nhật sau chiến tranh xuất bản năm 1944. Câu văn của Miller lí giải tại sao chúng ta  chẳng bao giờ tìm thấy giá trị lịch sử nhân chủng trong hàng nghìn hàng vạn trang sử do xã hội viết ra từ trước đến nay mà chỉ thấy trong các tác phẩm văn học, điển hình là tiểu thuyết. Tiểu thuyết không chú tâm đến phần mô tả và phê phán chính lịch sử. Sự biến lịch sử được tiểu thuyết gia ghi giữ và kết cấu thành tình huống hiện hữu cho các nhân vật của mình. Chúng là những sự biến do vô tình hay cố ý bị các sử gia và các nhà chính trị bỏ quên. Chúng không làm lịch sử dân tộc trở nên hiển hách, chói lọi hơn (ngược lại đa phần chỉ khiến lịch sử thêm u buồn, tăm tối), kinh nghiệm nhân chủng cơ bản của chúng được tiểu thuyết gia sử dụng như một căn nguyên lịch sử để từ đó có thể phóng chiếu lên tầng suy nghiệm nhân bản cao hơn cho những thử thách tương lai, mà thông thường là sự tái diễn. Lev Tolstoy viết trong phần ba của bộ tiểu thuyết đồ sộ Chiến tranh và hòa bình là lịch sử sẽ được hiểu một cách đầy đủ và đúng đắn hơn từ góc độ tiểu thuyết. Như chúng ta thấy, Tolstoy không hề mô phỏng lịch sử trong tác phẩm của mình. Bởi tiểu thuyết gia không phải là kẻ hầu hạ sử gia như ông nhà văn Milan Kundera nói luôn mồm. Nói như thế, lịch sử trong tiểu thuyết có đời sống riêng của nó, nó không minh họa lịch sử và chính nó đã thổi hồn phách vào lịch sử, cho lịch sử một khuôn mặt người.

Chuyện nuôi lợn của cư dân Hà Nội (một hồi đoạn hoàn toàn bị các sử gia lãng quên, nhưng cực kì trọng đại ở bình diện nhân chủng) là cái căn nguyên lịch sử được nhà viết tiểu thuyết Nguyễn Xuân Khánh xây dựng thành một kinh nghiệm nhân chủng, mà chính ông là một chứng nhân, trong tác phẩm Chuyện ngõ nghèo.

Tuy thế, tác giả đã  không cho phép chúng ta lười lĩnh tự ru ngủ với một câu chuyện tuy thương cảm, bi thiết nhưng nói cho cùng chẳng qua chỉ là chuyện thời cuộc thế gian xoàng xĩnh. (Ối dào! Chuyện đời ấy mà, có gì lạ đâu, nghèo khổ thì nơi đâu, thời nào mà chẳng có!) Tác giả không dừng ở đấy, ông bắt chúng ta phải trực diện một vấn nạn gai góc, khó nhằn hơn nhiều: cái bản ngã lợn hay Trư cuồng, nói theo ngôn từ của ông.

Câu chuyện nuôi lợn của ông Hoàng bắt đầu đi vào giai đoạn có nhiều biến cố từ khi ông mua thêm một con lợn con có đôi mắt như mắt bò và lớp lông màu hung vàng như “cỏ tranh vàng khô vào mùa lá rạc ở Tây Bắc” mà ông đặt tên là Lợn Bò. Ông đã có sẵn trong chuồng ba con lợn ỉn. Lúc mới về Lợn Bò chịu lép vế ba con lợn ỉn, không dám tranh ăn, khi nằm ngủ phải tìm góc chuồng dơ bẩn đầy cứt đái, thậm chí còn bị ba con kia cắn tai, húc mõm vào bụng. Nhưng con Lợn Bò ăn hăng lắm, nó tận tình vét máng mỗi lần ăn và nhờ thế tăng trọng nhanh chóng hơn ba con kia. Một hôm khi đã to khỏe đủ, nó đánh lại ba con lợn ỉn và cuộc chiến tranh trong chuồng lợn bùng nổ.

Cái chuồng lợn nhà ông Hoàng không khác cuộc đời ngoài kia bao nhiêu, nó là sân khấu chính trị, với tất cả những đấu tranh hận thù tàn bạo mà kẻ mạnh có toàn quyền “cắt tiết” những kẻ yếu hơn mà không chịu suy tôn thần phục chịu làm nô lệ cho mình. Ông Hoàng suy ngẫm. Thoạt tiên là ý nghĩ về từ “đồ tể.” Qua những trang viết rời từ cuốn Bách khoa lợn không bao giờ xuất bản của ông Tám, ông Hoàng nghiệm ra ý nghĩa khiếp hãi của vai trò người nắm quyền lực trong tay:

Tìm từ nguyên của từ ‘đồ tể’ thấy gồm hai thành tố: tiền tố ‘đồ’ và hậu tố ‘tể’.

Riêng hậu tố ‘tể’ chỉ thấy hiện diện trong hai từ khác: chúa tể và tể tướng. Hóa ra anh làm nghề giết lợn lại có họ hàng gần với những bậc chí cao: ông vua và quan đại thần tột bậc. Họ gần gũi nhau ở điểm gì? Xét cả ba nghề làm vua, làm quan, giết lợn, thì thấy cả ba giống nhau ở chỗ đều có quyền giết chóc kẻ khác. Vua và tể tướng có quyền giết dân, đồ tể có quyền giết lợn. Giết người là một quyền uy to lớn nhất, tối cao nhất trong mọi quyền. Suy cho cùng, có thể nói nghề vua quan cũng là một thứ nghề đồ tể; chỉ có khác, đối tượng giết ở đây là con người.”

Tôi không rõ ông Trần Bình thời nhà Hán bên Trung Quốc khi ra làm tể tướng có lây nhiễm tính “cắt tiết” của một anh “đồ tể” dưới làng quê thời hàn vi hay không (ông ta có lẽ là nhân vật lịch sử duy nhất mang cả hai danh hiệu có chữ “tể”), nhưng các cuộc cách mạng trên thế giới (không phải của đồ tể chuyên nghiệp) cuối cùng đều đi đến chỗ phản bội, và cách mạng sẵn sàng “cắt tiết” bất cứ kẻ nào cản bước tiến của mình. Có bao nhiêu chiếc đầu lâu bị máy chém cắt lìa trong cuộc cách mạng Pháp 1789? “Cách mạng đã cắt tiết chế độ cũ. Máu tiết ở tim, gan, phổi, óc của chế độ cũ phải kiệt đi, phải chảy đến giọt cuối cùng để cách mạng có thể thay thế vào đó một dòng máu mới.” Đau đớn thay, đó chính là cái gì xảy ra suốt thời trung đại lịch sử Việt Nam và lan sang cả thời hiện đại cho đến tận bây giờ. Cái bản ngã lợn không đâu rõ hơn lịch sử nội chiến Việt Nam với không biết bao nhiêu con người bị “cắt tiết” trong đớn đau, tủi hận. Cắt tiết là rút con dao lá lúa đâm một nhát vào cổ, xọc vào tim, cho dòng máu đỏ vỡ ùa ra ồng ộc nhưng cũng có thể là cho chết lần mòn bằng những hình thức tù đày, khủng bố dã man.

Nhưng quan hệ hơn, qua con Lợn Bò, ông Hoàng bắt đầu nhìn thấy hình ảnh của Trư cuồng. Hình như bất cứ ai cũng có thể là một anh đồ tể, trong tim ai cũng lấp ló một anh đồ tể sẵn sàng chém giết không gớm tay. Cái xấu, cái ác tràn ngập thế gian. Tuy vẫn còn u minh mờ mịt, ông mơ hồ cảm nhận được trong con người ông “thiếu vắng một cái gì rất cơ bản mà ông không sao xác định nổi.” Ông run rẩy vì “chợt có lúc thoáng thấy nỗi sợ hãi của phi nhân…” Ông vẫn yêu thương cuộc đời, vẫn yêu hình ảnh con sông Đuống mộng mơ của bạn ông, hay những dãy phố cổ nghiêng nghiêng trong tranh người bạn khác, nhưng ông muốn “vươn khỏi cái hạn hẹp để hành trình đến cái đích thực nhân đạo.” Mơ hồ nhưng day dứt, ông bị điều ấy hành hạ ngày đêm.

Việc nuôi lợn của ông Hoàng không làm gia đình ông hạnh phúc, sung túc hơn. Ngược lại là đằng khác. Tiền nuôi lợn thâm lạm tiền chi tiêu ăn uống khiến nhà ông phải húp cám lợn thay cháo. Vợ chồng ông hục hặc nhau, nay chiến tranh nóng, mai chiến tranh lạnh. Ông ví vợ ông là cây lộc vừng ông đem từ thôn quê ra, dĩ nhiên chị không hiểu ông và thường xuyên trách móc ông không thực tế, toàn ôm chuyện viển vông, viết lách vớ vẩn để mang họa vào thân. Lẽ đương nhiên, có ai hiểu được ông đâu, ngay cả thằng con trai lớn tên Linh học đại học ban Triết suốt ngày ôm cuốn Nam Hoa Kinh của Trang Tử cũng bỉ báng, chế nhạo ông đủ điều. Ông tìm quên ở Hồ Ly, một con cáo chín đuôi tu luyện hơn nghìn năm ở Hồ Tây biến thành cô gái đẹp bầu bạn với ông, nắm tay ông đi dạo quanh hồ vào những đêm lấm tấm trăng sao. Ông sống giao thoa giữa thực và mộng, không phân biệt được đâu là cuộc sống thật đau xót và đâu là giấc mộng ảo mơ hoa.

Chưa hết, đang vật vã với cuộc sống cùng cực cộng thêm những ý nghĩ đớn đau như thế, ông Hoàng còn bị gọi lên “làm việc” với an ninh. Người ta vẫn không để yên cho ông. Chỉ vì một câu nói “Que faire?” cách đấy mươi năm người ta quy kết lên đầu ông tội “chống tổ chức”, một cái tội mơ hồ không bằng cớ, không nhân chứng, không luật sư biện hộ, không thẩm phán, không bồi thẩm đoàn. Một tòa án cũng không mà chỉ là gian phòng thẩm vấn hỏi cung lạnh lẽo trơ trịa một chiếc bàn xấu xí. Nhưng lần này ông Hoàng bị mời đến làm việc trong một ngôi chùa. Hình ảnh ông Hoàng đi tìm ngôi chùa để “được” thẩm vấn khiến tôi nhớ lại K. hôm anh đi tìm cái tòa án cực kì lạ lùng trong cuốn Vụ xử án của Franz Kafka. Cuốn tiểu thuyết của Kafka cho chúng ta thấy bi kịch của con người hiện đại: con người va chạm không phải với con người khác mà với thế giới biến dạng thành guồng máy thư lại kềm kẹp khổng lồ. Con người như con vật nằm trong rọ. Ông Hoàng và K. có chung một số phận, số phận của những kẻ “đầu thai lầm thế kỉ”, những kẻ lầm lẫn bước vào cõi đời này.

Người thẩm vấn ông Hoàng lần này là một cán bộ đứng tuổi, giọng nói ấm áp, gương mặt đôn hậu có thiện cảm chứ không khó ưa như cái gã hỏi cung những kì trước. Ông ta bảo đây là một cuộc trao đổi chứ không phải thẩm vấn. Dù gì ông Hoàng cũng đã rắp tâm từ đêm trước nói hết điều mình muốn nói. Ông bảo người cán bộ già ngồi đối diện:

“… Đất nước chúng ta đang rơi vào một chủ nghĩa hư vô. Người ta đã dè bỉu, rồi xóa bỏ tất cả những cái nhân đạo xưa, để thay thế vào đó bằng một thứ chủ nghĩa nhân đạo mới, ở đó bóng dáng con người mờ nhạt. Người ta vẫn rao giảng một cái gì đó quá ư khoa trương, đẹp như một ống kính vạn hoa, để rồi con người soi mình vào đó và không thấy khuôn mặt mình ở đâu cả. Cái áo quá đẹp ấy không hợp với kích cỡ con người. Chúng tôi chán ngấy sự ồn ào mĩ miều và chỉ thèm khát một tấm áo giản dị nhưng vừa vặn. Chúng tôi chỉ thèm một thứ nhân đạo đích thực, ở đó người nào nhìn vào cũng thấy khuôn mặt của mình.”

Thấy người cán bộ già chưa có phản ứng rõ rệt, ông Hoàng nói thêm, lần này ông quyết liệt không vòng vo mà đi thẳng vào vấn đề cốt lõi:

Sự tham vọng quá lớn, định làm những điều quá to tát, không hợp kích cỡ ở thế gian này, đã đẩy chúng ta vào ngõ cụt. Đất nước đang gặp thất bại và sẽ còn khó khăn. Nhưng cho dù, về mặt vật chất, dù có thành công chăng nữa thì tôi cũng xin nói rằng: Cách mạng sẽ chỉ đẹp đẽ và hấp dẫn khi nó nhân đạo hơn, dân chủ hơn, vừa tầm vóc con người hơn mọi lí tưởng khác.”

Đến đây tôi chợt nhớ một đoạn văn của nhà văn Czech Milan Kundera viết trong phần 5 của danh tác Đời nhẹ khôn kham như sau:

Người nhận định các chế độ Cộng sản ở Trung Âu đơn thuần chỉ là những tổ chức ăn cướp, người ấy không nhìn ra sự thật hết sức cơ bản: bọn cầm đầu các chế độ ăn cướp đó không phải là bọn cướp, chúng là những kẻ cuồng nhiệt bám chắc vào niềm tin chúng tìm ra con đường duy nhất đưa con người đến Thiên đàng. Chúng kiên quyết bảo vệ con đường đó, đến nỗi không ngần ngại giết hại không biết bao nhiêu mạng người. Dần dà về sau, khi Thiên đàng chỉ là ảo vọng, bọn người cuồng nhiệt kia trở thành lũ sát nhân.”

Ông viết thế bởi ông là người trong cuộc đi ra và hiểu rõ bản chất thật của Thiên đàng. Qua cuốn tiểu thuyết Chuyện ngõ nghèo, tôi tin nhà văn Nguyễn Xuân Khánh cũng có một tư duy tương tự Kundera khi ông bảo, “. . . Bây giờ thì chúng tôi chán ngấy sự trở thành khổng lồ rồi, chán ngấy sự cuồng tín bi thảm ấy rồi, chán ngấy những cái gì siêu kích cỡ. Chúng tôi đã đẩy chúng tôi vào ngõ cụt.”

Thiên đàng của Kundera chính là “cái gì siêu kích cỡ” của Nguyễn Xuân Khánh. Cả hai nhà văn đều thất vọng cực kì về cõi hoang tưởng, cả hai đều có cái nhìn hết sức bi quan về bản ngã và bản thể cuộc sống con người.

Dĩ nhiên, cuộc “trao đổi” giữa ông Hoàng và người cán bộ già chẳng đi đến đâu. Tôi có cảm tưởng hai người tuy nói cùng ngôn ngữ nhưng không ai hiểu ai, mỗi người như có một hệ cơ số riêng, và không hề có sự đả thông tư tưởng. Lỗi ở ông Hoàng ngây thơ, hay ông còn chút hi vọng vào lẽ phải và sự hợp lí? Cũng như K. đứng giữa cái tòa án dị kì trên tầng sát mái khu chung cư tồi tàn mà hùng hồn nói về hoàn cảnh của mình (anh không tự biện hộ vì anh đâu biết mình bị kết tội gì). Lời lẽ của anh trước tòa án chẳng có chút trọng lượng nào, nó nhẹ hơn không khí, và chẳng có tí phản ứng gì từ phía ông quan tòa. Tất cả cái cảnh huống quái đản, thậm chí ma mị ấy, là sự phi lí khủng khiếp. Cả ông Hoàng lẫn K. đều tin vào sự hợp lí, tin hợp lí sẽ chiến thắng phi lí, nhưng vô cùng khốn nạn cho hai người, ở đây cái phi lí mới được tôn sùng, nó là chân lí tuyệt đối, là lẽ sống, là lí tưởng cho mọi người noi theo. Trong cuốn tiểu thuyết 1984 của nhà văn Anh George Orwell viết năm 1948, ba khẩu hiệu của Đảng được phổ biến khắp nơi, bắt cư dân ghi nhớ: Chiến tranh là hòa bình, Tự do là nô lệ, Ngu dốt là sức mạnh. Nghe phi lí quá, phải không, thưa bạn? Khẩu hiệu gì mà nghe trái với đạo lí, luân lí thông thường thế! Điều nguy hiểm chết người nằm ở đấy. Một hôm cái phi lí biến thành hợp lí, cái phi lí nghe thuận tai, cái phi lí trở nên chân lí. Sự thật được hiểu bằng doublethink (từ do Orwell sáng chế ra), tư duy hai chiều, chiều nào cũng đúng, bởi Sự thật không nằm trong tủ chè hay kệ sách nhà bạn mà nằm dưới tầng ý thức, dưới cả tầng tiềm thức, thậm chí có thể là tầng vô thức trong não bộ của bạn. Lúc điều phi lí nghe thuận tai là lúc Đảng chiến thắng toàn diện, Đảng trên hết, Đảng là chúa “tể”, và con người vĩnh viễn nằm trong quỹ đạo của Đảng. Đó là số phận của K., của anh chàng Winston Smith và của ông Hoàng.

Ông Hoàng sa sút thê thảm, tinh thần ông cũng kiệt quệ đến mức cùng cực. Hồ Ly bỏ ông ra đi. Ông không biết tại sao Hồ Ly bỏ đi, nhưng ông vẫn phải sống và đành đem những cuốn sách quý của mình đi bán rẻ kiếm tiền nuôi lũ lợn. Ôi chao! Nào là Chekhov (Sêkhốp) nào là Sếchxpia (Shakespeare), nào là Đốt (Dostoyevsky), nào là Camuy (Camus), tất cả theo nhau chui vào cái bụng ỏng của con Lợn Bò.

Con Lợn Bò đặc biệt thích ăn bằng tiền bán bộ truyện kiệt tác Anh em nhà Karamazov của Dostoyevsky. Đây là một ẩn dụ tuy buồn cười nhưng hết sức chua xót. Tác phẩm của nhà văn Nguyễn Xuân Khánh chứa đựng nhiều ẩn dụ và biểu tượng, và đây chính là ẩn dụ chìa khóa để hiểu tác phẩm của ông.

Dostoyevsky – người nói câu “Cái đẹp cứu rỗi thế giới” – có lẽ là nhà văn được ông Hoàng kính trọng nhất. Đối với ông, Dostoyevsky là biểu tượng của Chủ nghĩa nhân đạo đích thực và ông tận mắt nhìn thấy cái chủ nghĩa ấy đang bị con Lợn Bò nuốt chửng. Ông không đau đớn đến bủn rủn sao được? Dostoyevsky nói câu nói ấy thường dễ trên trăm năm rồi, nhưng thế giới đã được cái đẹp cứu rỗi chưa, con người đã được giải phóng chưa hay vẫn đắm chìm trong cái xấu xa, con Lợn Bò vẫn ngự trị, sự bẩn thỉu tràn lan, để đi đến hậu quả con người dần dà đánh mất hết phẩm giá và đức hạnh. Cuối cùng Dostoyevsky hiện về bảo ông Hoàng cứ để con Lợn Bò ăn hết sách của ông, ông chẳng còn gì để nuối tiếc. Aha, cái lão Chekhov ẩm ương ấy còn tí ti lí tưởng muốn giữ lại trái tim chứ “. . . Còn tôi, dù con quỷ của anh có ăn hết toàn bộ hình hài, tôi cũng chẳng lo. . .” Dostoyevsky bảo ông Hoàng như thế. Hình như cả Dostoyevsky lẫn ông Hoàng đều đi đến chỗ tuyệt vọng, cả hai đều không còn chút niềm tin nào vào cuộc đời. “Chúa đã chết! Thời vô trị đã đến!”

Sách càng chui nhiều vào họng con Lợn Bò, ông Hoàng càng đau đớn. Ăn cho béo chưa đủ, nó còn mỉa mai, châm chọc ông, “. . . Chao ôi! Tư tưởng! Ta đến ngột ngạt vì sách, vì tư tưởng của các người. Nhưng thử hỏi, sách mọc lên như nấm thế, mà sao con người hiện nay có tốt đẹp gì thêm đâu? Vả lại, sách còn đem vạ cho người. Ở thời buổi này, sách có thể dẫn ta vào cuộc đời tan nát.”

Con Lợn Bò có lí của nó. Vợ ông Hoàng cũng không nghĩ khác, chị còn dọa mai này ông chết, chị sẽ chôn theo ông tất cả đống sách vở của ông.

Con Lợn Bò bây giờ phè phỡn không thể tưởng. Với sức mạnh và mưu chước quỷ thần, nó nắm trọn giang san chuồng lợn, ba con lợn ỉn hoàn toàn thần phục nó. Bây giờ nó là chúa tể chuồng lợn, nắm mọi quyền hành sinh sát trong tay, muốn làm gì thì làm, ăn những máng cám ngon nhất có trộn tóp mỡ do cậu Linh đem về, được ngủ chỗ ấm nhất trong chuồng. Lúc ăn no, nó còn nằm ễnh người ra cho con lợn ỉn út liếm dương vật. Gớm ghiếc đến thế là cùng! Mỗi lần trông thấy cái cảnh tởm lợm muốn mửa đó, ông Hoàng điên tiết cầm chổi tre quất túi bụi lũ lợn. Với cái chổi, ông tạm thời giải quyết chuồng lợn trong nhà ông, nhưng còn cái chuồng lợn kinh khiếp gấp trăm gấp nghìn lần ngoài kia thì sao? Ông lao đao, lên cơn mê sảng. Ông ốm nặng và ông thấy mình đứng mấp mé ở bến bờ tử sinh. Và trong lúc như thế ông thấy ông đi vào cuộc Hành trình vào Hỗn mang.

Đấy là phần hai của cuốn tiểu thuyết.

Hành trình vào Hỗn mang là những giấc mơ của ông Hoàng trong cơn ốm đau mê sảng, nhưng đan xen vào những giấc mơ lại là những hồi đoạn rất thật. Có thể xem đấy là những truyện ngắn đứng riêng lẻ, nhưng lồng vào tổng thể cuốn tiểu thuyết, chúng tạo thành thế hỗ tương chặt chẽ bởi chủ đề của những truyện ngắn tưởng như độc lập ấy không đi trệch ra khỏi chính truyện bao nhiêu: Cái tính thèm nhìn máu đổ, dù là máu lợn, của người dân làng trong Hội làng; cái chất “đồ tể” nguyên thủy nơi con người ông Tí Giò trong Bãi chết; phẩm chất cách mạng chân chính của người bạn tên Vinh trong Người khổng lồ vác nặng, người trước khi nhắm mắt lìa đời, dù bị cách mạng phản bội đến tả tơi mà vẫn chờ đợi, vẫn buông được câu nói “. . . Cái gì rất đẹp ấy . . . rồi nó sẽ đến.” Giữa ông Tí Giò và ông Vinh là một đại dương khác biệt, hai con người tượng trưng cho hai thái cực nhân cách, như trắng và đen, như ngày và đêm. Nhưng thực tại cuộc sống cho thấy đa phần con người chúng ta không trắng đen rành rọt mà xám, và phải chăng chính cái màu xám bi đát đó đã khiến chúng ta vĩnh viễn thất lạc trong cõi Hỗn mang? Bởi trắng đen thì dễ nhìn chứ xam xám thì chỉ có cái kính “Chiếu Trư” của Chekhov mới nhìn ra. Ông Tám quả tinh mắt. Ông gọi bạn mình là “đồ ngốc” cũng đáng. Ông nhìn ra cái giống lợn-người mà ít ai trong chúng ta có khả năng nhận thấy. Vâng, ông Tí Giò có đứng xa cả trăm thước thì đứa trẻ con lên ba cũng biết và khóc ré lên vì khiếp sợ (thật ra ông Tí Giò là kẻ đáng thương hơn đáng ghét), còn những con lợn-người thì mặc những bộ áo xống đẹp đẽ lịch sự nhất, khoác những cái mặt nạ hiền hòa nhân hậu nhất, nói to vào máy vi âm những lời lẽ nhân đạo nhất cho mọi người cùng nghe, và chúng ta đứng dưới vỗ tay thật to tán thưởng. Cái thâm độc nhất của lợn-người là biết khai thác một cách đầy hiệu quả chất lợn của lợn thật (ông Tí Giò chẳng hạn), và bởi Lịch sử được viết theo góc nhìn của lợn-người nên sự quang vinh của lợn-người sẽ được muôn đời ca tụng. Sự thật không hề hiện hữu trong thế giới lợn-người.

Nhân thuật chuyện ông Tí Giò, tác giả có tạt qua việc Cải cách ruộng đất hồi đầu thập niên 50 ở miền Bắc. Sách vở về chuyện này đã có nhiều, hư cấu cũng như phi hư cấu, nhưng không mấy ai nêu lên luận điểm chìa khóa mà Nguyễn Xuân Khánh nói đến ở phần này của cuốn tiểu thuyết, dù chỉ thoáng qua. Qua suy nghĩ của Thái lúc trước khi bị đem ra xử bắn “Anh cảm thấy thương hại sự vô ơn của những con người ấy. Chính vì những con người ấy mà bao năm nay anh lăn lộn xả thân . . .” hiển lộ một trong những thuộc tính cơ bản nhưng thường được khéo léo che giấu của con người. Những người nông dân ngày thường thật thà chất phác ấy, ai ngờ lúc lâm sự có thể đẩy kẻ vô tội vào chỗ chết, và họ khoái trá, thậm chí cuồng điên sôi máu khi chứng kiến kẻ xấu số lãnh nhận cái chết đau đớn oan khiên. Họ chen nhau vào pháp trường, kể cả những đứa trẻ, để mục kích cảnh tượng khiếp hãi ấy. Trong cuốn tiểu thuyết Chuyện đùa, Kundera cũng có một nhận định tương tự: “Ludvik nhìn thấy tất cả bạn bè, đồng nghiệp anh thật dễ dàng đồng loạt giơ tay biểu quyết đuổi anh khỏi trường đại học và cuộc đời anh từ đó đảo lộn. Anh đoan chắc nếu cần họ cũng sẽ biểu quyết một cách dễ dàng như thế ra lệnh treo cổ anh. Từ đó định nghĩa của anh về con người: một hiện thể có khả năng xô đẩy người láng giềng đến cái chết trong bất cứ cảnh huống nào.”

Cái chất lợn-người có lẽ nằm trong DNA của chúng ta.

Cuộc Hành trình vào Hỗn mang đưa ông Hoàng vào một xứ lạ có tên gọi là Cực Thiên Thai. Đọc đoạn văn này của Nguyễn Xuân Khánh, tôi có cảm tưởng nó là tổng hợp của ba cuốn tiểu thuyết kinh điển của phương Tây về thể loại này: cuốn Chúng ta của nhà văn Nga Yevgeny Zamyatin, cuốn Thế giới mới dũng cảm của Aldous Huxley, và cuốn 1984 của George Orwell. Cả ba đều được viết từ nửa đầu thế kỉ XX, cuốn Chúng ta ra đời sau Cách mạng Tháng Mười bên Nga vài năm, bị Hội Nhà Văn Nga gán cho cái nhãn “cực kì phản động” và tác giả bị trục xuất khỏi quê hương khi cuốn sách được tung ra ở nước ngoài. Cả ba tác phẩm tiểu thuyết đều gay gắt phê phán một thế giới thuần nhất, trong đó con người là những cỗ máy, tên tuổi chỉ là những mã số được chỉ định từ lúc lọt lòng mẹ, không có tình yêu hay gia đình mà chỉ biết ăn, thở và lao động. Nguyễn Xuân Khánh cũng không chấp nhận một thế giới như vậy, một thế giới con người đóng vai Thượng đế, cho dù chỉ có tiếng cười và niềm vui. Một thế giới không nước mắt là một thế giới phi nhân, nơi đó con người là phi-chân-diện-mục. Một thế giới trong đó xã hội là một hệ thống quan liêu với mục tiêu tối thượng là bắt con người trở nên vô cảm, không có tâm hồn, mất hết mọi ý niệm cá nhân chủ nghĩa. Một thế giới trong đó giới lãnh đạo là những kẻ chỉ biết quyền lực, đối với họ quyền lực không phải phương tiện mà là cứu cánh, hoặc giả, theo định nghĩa của Simone Weil, “quyền lực là khả năng biến một con người sống thành cái xác chết, có nghĩa là, từ vật sống thành món đồ.”

Khác với anh chàng Winston Smith của Orwell chết dở sống dở từ phòng 101 bước ra về, chấp nhận cuộc sống nô lệ như cũ, ông Hoàng của Nguyễn Xuân Khánh trở về cõi dương gian sau khi nhờ chiếc kính chiếu trư của ông Tám trông thấy lãnh tụ tối cao A1 của xứ Cực Thiên Thai chính là con Lợn Bò. Trở về nhưng không vui vì ông biết cái độc chất Trư cuồng ấy vẫn tràn lan trong cõi nhân gian. Làm sao tẩy xóa nó được?

Trư cuồng – Poóxinômani – Bái trư giáo – Trư luận – Trư học – những từ ngộ nghĩnh không tìm thấy trong bất cứ cuốn từ điển nào. (Nếu tỉ mẩn, bạn có thể truy nguồn từ nguyên của từ ‘Poóxinômani’ từ hai từ tiếng Anh porcinemania, hay tiếng Pháp porcinmanie. Song, theo tôi, từ ‘Trư cuồng’ trong tiếng Việt vẫn là ấn tượng và độc đáo nhất.)

Đoạn kết cuốn sách, cũng là phần kết Nhật kí lợn, chúng ta thấy chuyện nuôi lợn của gia đình ông Hoàng phải chấm dứt, một kinh nghiệm kinh doanh thảm hại, và cậu Linh quyết định giết con Lợn Bò bán thịt để lấy tiền thuốc thang cho bố. Tôi rất thèm được nghĩ chuyện cậu Linh giết con Lợn Bò là một ẩn dụ Nguyễn Xuân Khánh muốn gửi gắm vào thế hệ tương lai, cái độc tố Trư cuồng ấy phải chấm dứt, chỉ có cách giết chết nó mới làm đẹp xã hội loài người được, và chỉ có thế hệ tương lai mới làm được chuyện đó.

Cũng như các tác phẩm văn học quan trọng khác, cuốn tiểu thuyết Chuyện ngõ nghèo của nhà văn Nguyễn Xuân Khánh mang nhiều chiều kích. Ngoài chiều kích lịch sử, xã hội, chính trị, nó còn hàm ẩn chiều kích tiên tri. Từ 35 năm trước lúc nhà văn Nguyễn Xuân Khánh hoàn tất cuốn sách hay bây giờ cũng thế, Trư cuồng là một lời cảnh báo của tác giả đến chúng ta, một lời cảnh báo cực kì cấp bách. Nếu lịch sử không thay đổi đường đi của nó thì chẳng bao lâu chúng ta sẽ mất hết những phẩm chất con người, biến thành những cỗ máy vô hồn mà chính chúng ta hoàn toàn không nhận biết. Trong trường hợp ấy, nếu cái ẩn dụ bên trên đúng như tôi suy diễn thì nó chỉ là một wishful thinking.

Nguyễn Xuân Khánh đã can đảm lột trần cái xấu xa nhất của con người: cái bản ngã lợn. Trong mắt nhìn của ông thì đấy là căn nguyên của những vấn nạn gai góc chúng ta đang trực diện trong cuộc sống con người. Phải chăng ông là người theo lí tưởng chủ nghĩa bởi, với tất cả những bằng chứng lịch sử từ thuở hồng hoang cho đến ngày nay, con người vốn ác. (Tuân Tử có lẽ đúng chứ không phải Mạnh Tử khi phán “Nhân chi sơ tính bản ác.” Plato bên trời Tây trong trứ tác Cộng hòa cũng có nhận định tương tự và thánh Moses trước đó cả nghìn năm đã biết rõ bản chất ác của con người khi Ngài đặt ra Mười Điều Răn cho dân Do Thái.)  Nhưng lí tưởng của Nguyễn Xuân Khánh còn là một lí tưởng nhân đạo đích thực và chính cái lí tưởng ấy đã giúp ông tiếp tục chiến đấu trong những điều kiện khó khăn, ngặt nghèo nhất. Vì lí tưởng có lúc ông như lên đồng không phân biệt được đâu là thật đâu là giả. Vì lí tưởng ông đã bị quẳng vào đáy sâu của ngục tù. Song, thể xác ông có thể bầm giập vì bạo lực, cường quyền, nhưng lí tưởng đã giúp ông bền bỉ vác thập tự giá bước đều trên con đường thánh ông tự định hướng cho mình. Ông không thể bỏ cuộc khi chính cái lí tưởng của ông bị đe dọa và vi phạm. Có thể con đường thánh đó không bao giờ đưa ông đến điểm cuối, điểm hẹn của những linh hồn thánh hóa, nhưng điều đó không quan hệ, nó chẳng khiến ông chùn bước. Ở chân trời vẫn có người bay, thưa bạn. Và chúng ta chịu ơn những người như thế nhiều biết dường nào.

Một chi tiết nhỏ, rất nhỏ, tôi ghi ra đây như phần cước chú vui vui cho bài viết. Tôi không đồng ý với ông Tám Bách khoa lợn khi ông lí giải tiền tố “đồ” trong từ “đồ tể”. Theo ông thì chữ “đồ” ở đây hàm ẩn một ý nghĩa khinh miệt như trong những cụm từ “đồ ăn cướp” hay “đồ lưu manh”. Tôi không nghĩ thế. Tiền tố “đồ” trong từ “đồ tể” 屠宰 cũng có nghĩa là giết súc vật như hậu tố “tể” mà thôi. Và trong mắt nhà văn Kim Dung nó còn mang một ý nghĩa cao cả là giết rồng (hay giết vua). Đồ long đao của Kim Dung là thanh đao dùng trong cuộc kháng chiến chống ngoại xâm đưa người anh hùng áo vải lên làm vua nhưng nếu người anh hùng một hôm trở thành một hôn quân tàn ngược thì chính thanh đao đó sẽ quay lại biến thành vật “đồ long.” Tuy thế, cho đến ngày nay Đồ long đao vẫn là một huyền thoại.

Đăng tải tại Articles | Để lại phản hồi

Nét linh diệu của sự bất toàn

Phỏng vấn Tết Đinh Dậu 2017

Trần Vũ thực hiện

Trần Vũ: Là một dịch giả được xem cẩn trọng trong dịch thuật, quan niệm cùng phương pháp dịch thuật của Trịnh Y Thư ra sao? Anh dịch sát, dịch tương đương, dịch thoát hay Việt hóa tối đa ngữ pháp? Đối với anh, dịch có còn là “phản”? Anh làm cách nào để tái tạo văn phong riêng biệt của từng tác giả? Khi một nhà văn có bút pháp chuyên biệt dùng liên tiếp 5 động từ xếp cạnh nhau với 10 tĩnh từ trong cùng một câu văn, anh có tôn trọng bút pháp ấy? Người đọc sẽ tìm thấy 5 động từ tiếng Việt với 10 tĩnh từ Việt ngữ trong câu văn dịch hay sẽ mất mát “rụng rơi” dọc đường? Khi tác giả viết 3 chữ rồi phẩy, 5 chữ rồi chấm, bản dịch của Trịnh Y Thư có giữ nguyên? Hay cấu trúc câu sẽ hoàn toàn khác? Dịch thoát giúp văn bản gần với tiếng Việt nhưng cùng lúc độc giả không còn hình dung ra cách tác giả hành văn thật sự. Ý kiến của anh?

 Dịch phẩm gần đây nhất của Trịnh Y Thư là tiểu thuyết nổi tiếng Jane Eyre của Charlotte Brontë. Vì sao phải dịch lại một quyển tiểu thuyết thật xưa và đã được chuyển ngữ sang tiếng Việt trước 1975? Tôi từng không hiểu vì sao Dương Tường dịch lại L’Etranger của Camus thành Người Dưng mà Lê Thanh Hoàng Dân và Mai Vi Phúc đã dịch là Kẻ Xa Lạ in năm 1973 trong Nam. Phải hiểu là Trịnh Y Thư khước từ bản dịch Kiều Giang của Hoàng Hải Thủy? Anh đem đến gì trong bản dịch cuối cùng? Sau nữa, vì sao chọn dịch tựa Đời Nhẹ Khôn Kham thay vì Nhẹ Kiếp Nhân Sinh văn chương hơn? Cá nhân tôi vẫn thấy Đời Nhẹ Khôn Kham chưa nói lên hết dục tính không chịu đựng nổi trong kiếp người mà tựa gốc trong tiếng Pháp L’insoutenable légèreté de l’être gợi ra. Chữ “Đời” cũng không hay bằng “Nhân sinh” tương đương với “L’Être” hơn. “Légèreté” trong tiếng Pháp có hàm ý phóng đãng mà chừng như “Lightness ít hơn trong tựa tiếng Anh The Unbearable Lightness of Being.

 Khi dịch Thư cho một người bạn gái đang du hành của Cortázar, tôi khám phá bản dịch Pháp văn Lettre à une amie en voyage của Laure Guille-Bataillon với Letter to a Young Lady in Paris của Alberto Manguel vô cùng khác biệt. Có những đoạn trong bản Pháp văn dịch khác hẳn và có những đoạn Anh văn không tìm thấy trong bản Pháp văn và ngược lại. Kỳ lạ là Julio Cortázar lúc sinh tiền đều chuẩn thuận cho in cả 2 bản dịch Anh-Pháp này. Không biết tiếng Tây Ban Nha, là bản gốc, khiến tôi vô cùng lúng túng. Phải theo văn bản nào? Trần Thiện Đạo, dịch giả của tạp chí Văn trước 75, không chấp nhận Hội Nhà Văn Hà Nội trao giải thưởng cho một dịch phẩm không dựa trên nguyên bản tiếng gốc mà thông qua một bản dịch ngoại ngữ khác. Anh đồng ý với Trần Thiện Đạo?

 Chắc chắn anh đã “trải nghiệm” nhiều khó khăn trong dịch thuật. Anh có thể kể ra kinh nghiệm của mình? Sau hết, vì sao anh chọn dịch Căn Phòng Riêng của Virginia Woolf mà không phải Căn Phòng Của Jacob (Jacob’s Room), hay Những Lượn Triều (The Waves), hoặc Đường Đến Hải Đăng (To the Lighthouse) là những tác phẩm làm nên danh tiếng của Woolf?

Trịnh Y Thư:  Nói chung có hai xu hướng chính về dịch thuật văn học: Hoặc trung thành với văn bản của nguyên tác; hoặc đặt trọng tâm vào yêu cầu tiếp nhận của ngôn ngữ dịch. Theo tôi, ở thời đại của chúng ta, quan niệm đúng đắn phải là sự kết hợp chặt chẽ giữa cả hai xu hướng. Tuy thế, tùy vào tác phẩm và thiên tư người dịch, ít nhiều vẫn có khoảnh đất trống cho hắn có thể phô diễn nét tài hoa trong bản dịch của mình. Nói như thế, dịch phẩm sẽ mang diện mạo của người dịch và điều đó góp phần không ít vào việc tiếp nhận của người đọc. Tôi không phủ nhận giá trị những dịch phẩm nghiêm chỉnh tuân thủ từng câu, từng chữ, từng dấu chấm dấu phết trong nguyên tác, nhưng tính Dionysian trong nghệ thuật bao giờ cũng hấp dẫn hơn, quyến rũ hơn và tôi sẵn sàng hi sinh cái chân lí tuyệt đối (đôi khi rất vô tích sự) để đổi lấy dăm ba nét linh diệu phù ảo của cái bất toàn.

Nghệ thuật nằm ở cái “thần” của tác phẩm. Ở bình diện văn học, nó là cái phong cách độc sáng mà mỗi tác giả sở hữu như của báu riêng. Nắm bắt cái “thần” đó trong nghệ thuật rồi tái tạo nó ở một tính thể khác, theo tôi, không phải là chuyện bất khả nhưng đòi hỏi tài năng và sức làm việc khủng khiếp. Phong cách văn học của tác phẩm chính là cái linh diệu của ngôn từ được sử dụng, người dịch sẽ không công bằng với tác giả biết bao nếu hắn quyết định lược bỏ những cái mà hắn cho là không thuần khiết trong ngôn ngữ của mình. (Giữ cho thuần khiết chỉ là cách “chạy làng” có hộ chiếu của những kẻ yếu bóng vía.) Tuy vậy, chữ nghĩa nằm nơi tầng thứ nhất của tác phẩm, tầng thấp nhất, dễ tiếp cận nhất và cũng dễ chuyển dịch nhất; sang tầng thứ hai, tầng chứa đựng cảm xúc, nếu khéo léo và với nỗ lực tối đa, vẫn có thể nắm bắt được; nhưng đến tầng thứ ba, tầng cao nhất, nơi cái “thần” của tác phẩm ẩn nấp, thì người dịch chỉ có cách dùng trực giác của mình để “tùy cơ ứng biến” mà thôi.

Anh nhắc đến cuốn tiểu thuyết Đời Nhẹ Khôn Kham của nhà văn Czech Milan Kundera. Vâng, cách đây khá lâu tôi bạo gan dịch và xuất bản cuốn tiểu thuyết ấy. Nhìn vào nhan đề cuốn sách, hiển nhiên vấn đề quan trọng và gay go nhất cho người dịch là làm thế nào dịch từ “being” cho chuẩn và hay. Tôi đã mất khá nhiều thời gian suy nghĩ tìm kiếm một từ tiếng Việt thích hợp cho nhan đề của bản dịch. Khi tác phẩm khởi đăng nhiều kì trên tạp chí Hợp Lưu, tôi chọn “Nhẹ Kiếp Nhân Sinh” vì tôi thấy cụm từ “kiếp nhân sinh” có vẻ “ăn khách vì hợp thời trang triết học hiện sinh”! (Phần tư thế kỉ trôi qua, bây giờ nghĩ lại tôi cảm thấy buồn cười cho chính mình). Lúc ấy trong đám bạn bè có người thích nhan đề này. Tuy vậy tôi vẫn thấy có cái gì không ổn và tôi nhíu mày bảo anh bạn tôi, “Nhưng nhan đề thiếu chữ Unbearable vốn quan trọng không kém và Kundera sẽ không vui nếu ông ta biết tớ bỏ một chữ, làm sao bây giờ? Hay là cậu cho tớ thêm từ kép Khôn Kham vào thành Khôn Kham Nhẹ Kiếp Nhân Sinh nhá. Nghe như câu lục của bài thơ lục bát ấy. Được không?” “Xì, tựa sách gì mà dài như chợ Đệu, chẳng ma nào thèm mua đọc đâu.” Anh bạn tôi trề môi lắc đầu. Thế là sách có nhan đề mới “Đời Nhẹ Khôn Kham” như anh thấy. Từ “nhân sinh” biến thành “đời” và Kundera, nếu biết, chắc chắn sẽ không vui bởi “being” với ông không phải là “đời sống”! Kì thực, ngay cả “nhân sinh” hoặc “hiện tính”, “hiện tồn”, “hiện hữu”, “hữu thể”, “thể tính”, “con người”, “thể chất”, “bản chất” và cả chục từ khác tôi tìm thấy trong các từ điển Anh-Việt cũng không thể nào phù hợp một cách xác thực với ý nghĩa Kundera muốn nói đến trong từ ngữ. Ông nói như sau về ý nghĩa của từ “being” dưới nhãn quan siêu hình của ông: “… Nếu sau khi chết chúng ta vẫn tiếp tục mơ, sau cái chết vẫn còn có cái gì đó thì cái chết không thể nào giải thoát chúng ta ra khỏi nỗi kinh khiếp của cái being.” Đúng ra, ông mượn câu độc thoại của Hamlet “To be or not to be” trong vở bi kịch Hamlet của Shakespeare. Trong mắt nhìn của Kundera, “Hamlet đưa ra vấn nạn về cái being chứ không phải đời sống. Sự kinh khiếp của being là: Cái chết có hai mặt. Một mặt là cái non-being, mặt kia là sự hiện hữu duy vật đáng sợ của cái thây ma.”

Hiển nhiên, Kundera hiểu từ “being” không hoàn toàn giống như Heidegger, và có lẽ lại càng không giống cách hiểu của tôi và anh. Thú thật với anh, phải chi tôi được quyền dịch là “Khôn Kham Nhẹ Cái Bi-ing”!!! thì đỡ khổ cho tôi biết mấy. Nhưng tôi cũng chỉ là kẻ “yếu bóng vía” mà thôi.

Kundera viết cuốn tiểu thuyết này bằng tiếng Czech, tôi dịch sang tiếng Việt theo ấn bản Anh ngữ của dịch giả Michael Henry Heim. Dịch như thế có thể khiến nhiều vị thức giả nghiêm túc và cẩn trọng cau mày không chấp nhận sự nhiễu xạ trong văn bản vì e lâm vào tình trạng “tam sao thất bản.” Điều ấy có thể là chính xác cách đây nửa thế kỉ khi một dịch giả Congo không biết tí gì về văn hóa Trung quốc dịch Kim Bình Mai dựa trên bản dịch tiếng Pháp của một dịch giả người Pháp, chẳng hạn. Ở thời đại của chúng ta, với sự bùng nổ của mạng lưới thông tin toàn cầu và tất cả những phương tiện truyền thông lẫn giao thông hữu hiệu nhất, thế giới càng ngày càng thu nhỏ thành một cái làng, tôi thấy quan điểm trên không còn đúng nữa.

Tiện đây tôi cũng muốn thưa với anh là Kundera gần đây đã nhuận sắc bản tiếng Anh của tác phẩm này và tôi cũng đã hoàn tất việc chỉnh sửa và dịch lại cho sát với văn bản mới. Hi vọng có NXB nào chịu in để kiệt tác của ông nhà văn này có thêm một đời sống nữa.

Về cuốn Căn Phòng Riêng của nữ sĩ người Anh Virginia Woolf, sở dĩ tôi dịch là do lời mời cộng tác của Quỹ Văn hóa Phan Châu Trinh thông qua nhà xuất bản Tri Thức ở Hà Nội. Woolf là một trong những tiểu thuyết gia lừng lẫy của thế kỉ XX, và theo chỗ tôi biết thì đấy là tác phẩm đầu tiên của bà được dịch sang tiếng Việt. Mặc dù cuốn sách là tổng hợp những bài giảng về đề tài “Phụ nữ và sáng tác văn học” chứ không phải một tác phẩm tiểu thuyết, nhưng qua cuốn sách độc giả Việt Nam đã có cơ hội làm quen với bút pháp “dòng ý thức” rất đặc trưng của bà. Cuốn sách đặt nền móng cho cao trào nữ quyền phát triển mạnh suốt thế kỉ XX, và câu hỏi của Woolf đặt ra trong cuốn sách, “Liệu các nhà văn nữ có thể sáng tạo nên những tác phẩm tầm vóc như của Shakespeare không?” cho đến ngày nay vẫn chưa có câu trả lời. Ấn bản đầu tiên của bản dịch ra mắt công chúng năm 2009 và năm 2016 NXB Tri Thức cho tái bản cuốn sách.

Cuốn Jane Eyre đến với tôi cũng trong hoàn cảnh tương tự. Công ti sách Nhã Nam (Hà Nội) một hôm mời tôi cộng tác dịch. Tôi không rõ lí do vì sao họ muốn xuất bản một bản dịch mới bởi đã có chí ít hai, ba bản dịch khác nhau trước đây. Còn việc đem ra đối sánh với các bản dịch cũ thì thú thật với anh tôi chưa đọc bản dịch tiếng Việt nào cả. Do đó tôi không thể xác định “trị giá gia tăng” của bản dịch này. Hơn nữa theo tôi thì công việc ấy là của độc giả và các nhà phê bình. Tôi chỉ biết cố gắng làm hết sức mình trong phạm vi có thể.

Dịch Jane Eyre vừa dễ vừa khó. Dễ vì đây không phải là một tác phẩm tiểu thuyết đầy màu sắc triết học siêu hình khó đọc. Nhưng khó vì ngôn ngữ văn học của tác phẩm là loại Anh ngữ của dòng văn học Anh thế kỉ XIX. Có những từ ngày nay không mấy ai sử dụng nữa, hoặc nếu còn thì thông thường lại được hiểu theo một ý nghĩa khác (chẳng hạn, từ ejaculate, mà cô em Emily cũng hay dùng trong cuốn Wuthering Heights). Điểm khó khăn khác cho người dịch, cũng như người đọc, là sự phong phú của chữ nghĩa, sự xa lạ của cảnh vật, sinh hoạt, tập quán đối với đa phần người Việt. Tác phẩm cũng trích dẫn nhiều điển tích từ Kinh Thánh hoặc các tác phẩm văn học cổ điển mà nếu không rõ xuất xứ thì khó có thể lĩnh hội điều tác giả muốn biểu đạt.

Những tác phẩm dịch của Trịnh Y Thư:

tbia_dnkkcpr_pic2je_bia

Đăng tải tại Articles | Để lại phản hồi

Jane Eyre: Bàn tay che dông bão

je_bia

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Jane EyreCharlotte Brontë, Trịnh Y Thư dịch,

Nhã Nam xuất bản 2016

*

Nhân loại ngày nay thừa hưởng không ít những tác phẩm văn học thường được gọi là kinh điển. Chúng là những công trình trước tác của nhiều thiên tài thuộc nhiều dân tộc, và từ khi tác phẩm ra đời cho đến nay, trải qua nhiều thế hệ người đọc, vẫn không phai nhạt giá trị nghệ thuật lẫn nhân sinh. Dù trải qua nhiều thử thách và những biến đổi ý thức hệ, lịch sử, chính trị, xã hội, chúng vẫn không hề có dấu hiệu chìm vào quên lãng. Nếu cần chúng ta có thể liệt kê vài cuốn tiêu biểu như Don Quixote của văn hào Tây Ban Nha Miguel de Cervantes, hay cuốn Chiến tranh và hoà bình của văn hào Nga Lev Tolstoy, hay cuốn Những người khốn khổ của văn hào Pháp Victor Hugo. Chúng là gia sản văn hóa chung muôn đời của tất cả chúng ta, không riêng một ai, và đóng góp một phần không nhỏ vào đời sống tinh thần của mọi sắc dân trên thế giới.

Trong số những kiệt tác ấy, có cuốn Jane Eyre của Charlotte Brontë. Khi mới ra mắt công chúng khoảng giữa thế kỉ XIX nó đã gây trận cuồng phong trên văn đàn dù tác giả là người phụ nữ không danh tiếng, không địa vị, không tiền bạc, thậm chí phải dùng bút danh đàn ông để tránh thiên kiến không mấy tốt đẹp của các nhà phê bình và người đời lúc đó. Từ đó cho đến tận ngày nay cuốn sách vẫn chiếm chỗ đứng cao quý trên kệ sách của người yêu thích văn chương, được đưa vào giáo trình các trường trung đại học, và đặc biệt được dựng thành phim, kịch – thậm chí nhạc kịch Broadway – không biết bao nhiêu lần mặc dù người ta thuộc nhẵn tình tiết cốt truyện. Điểm sau cùng này quả là sự kiện kì thú hiếm thấy ở các tác phẩm kinh điển khác, chứng tỏ cốt truyện có sức thu hút lạ lùng, được công chúng khắp nơi trên thế giới yêu thích đến độ say mê. (Phim Jane Eyre đầu tiên xuất hiện năm 1943 do hai tài tử Hollywood lừng lẫy thuở đó là Joan Fontaine và Orson Welles thủ diễn vai chính; phim gần đây nhất trình chiếu năm 2011 do đạo diễn Cary Fukunaga thực hiện. Giữa hai thời điểm đó, chí ít có hàng chục bộ phim khác kể cả phim tập làm cho màn ảnh nhỏ; theo tôi thì bộ phim tập trình chiếu trên kênh truyền hình BBC năm 1983 do hai tài tử Zelah Clarke và Timothy Dalton thủ diễn vai chính là đặc sắc và trung thực nhất với tác phẩm tiểu thuyết.)

Một cuốn sách có chỗ đứng trên tượng đài văn học kì vĩ suốt bấy nhiêu năm và được người đọc xưa cũng như nay mến mộ như thế, và nhân kỉ niệm 200 năm ngày sinh của Charlotte Brontë nhà xuất bản Nhã Nam (Hà Nội) vừa cho ấn hành một bản dịch Jane Eyre mới, thiết tưởng nên có đôi lời về tác phẩm.

Bối cảnh

Trong cuốn Căn phòng riêng, tiểu thuyết gia người Anh Virgina Woolf (1882-1941) trách Charlotte Brontë đã trút sự phẫn nộ của mình quá nhiều vào tác phẩm Jane Eyre. Trước đó thi sĩ kiêm nhà phê bình văn hoá Matthew Arnold (1821-1888) cũng gọi tác phẩm là đầy tính “nổi loạn và phẫn nộ.” Thế nhưng nếu căn cứ vào câu văn nổi tiếng nhất trong tác phẩm, ở chương cuối, “Thưa độc giả, tôi đã kết hôn với ông Rochester” thì chúng ta thấy đây là một tác phẩm tiểu thuyết “có hậu” và nó ám chỉ một hình thái kết cấu tiểu thuyết bảo thủ khá phổ cập trong thời kì văn học Victoria ở Anh quốc: Sau những chia lìa đau khổ, sau những trắc trở gian truân, nhân vật chính diện của tiểu thuyết bao giờ cũng được đền bù xứng đáng với hạnh phúc trọn đời. Sự thực là, từ hai xu hướng nhận định có vẻ trái ngược này, chúng ta có thể rút tỉa ra không ít những mâu thuẫn thú vị. Thật lạ lùng khi một tác phẩm được nhận định cùng lúc là “đề cao nữ quyền” và “chống nữ quyền”; cùng một cuốn sách, người bảo “cấp tiến” kẻ khác kêu “bảo thủ”, người khen “độc sáng” kẻ khác chê “phái sinh sao chép”, người gọi “lãng mạn” kẻ khác bảo “quá nghiêm khắc theo tinh thần Victoria.” Vân vân.

Tuy có khác nhau về nhận định, nhưng hầu hết đều đồng ý, Jane Eyre là một cuốn tiểu thuyết chứa đựng cảm xúc mãnh liệt, ngôn ngữ phong phú, tình tiết nhiều kịch tính được biểu hiện bằng một phong cách văn học mạnh mẽ, táo bạo. Ngay cả vào thời điểm cuốn sách ra mắt công chúng lần đầu năm 1847, giới phê bình và người đọc lúc đó đã sớm nhận thức đây là cuốn sách khác thường, một cuốn tiểu thuyết về phụ nữ của một nhà văn nữ được viết với tất cả phong cách khai phóng trong ngòi bút mà cho đến thời điểm đó chỉ thấy ở những tác giả phái nam. Tác giả đã can đảm vượt qua đường biên lễ giáo khắc nghiệt của xã hội Anh dưới triều đại nữ hoàng Victoria để trải bày tâm hồn và sự đam mê của người phụ nữ, chối bỏ vai trò phụ nữ tùy thuộc vào đàn ông, phê phán sự đạo đức giả của những kẻ mệnh danh đại diện tôn giáo, phê phán cả những tệ đoan của xã hội tư bản sau cuộc cách mạng kĩ nghệ đưa nước Anh lên hàng cường quốc. Tất cả những điều này hình như vi phạm nặng nề nền nếp suy nghĩ của giới trí thức cũng như đại chúng đương thời khiến có không ít tiếng nói phản bác nổi lên gọi cuốn tiểu thuyết là mối “nguy hại cho nền lễ giáo đoan chính” hoặc những nguỵ luận tương tự nhằm bảo vệ mặt tiêu cực của cái thành trì status quo phong kiến, hủ lậu và khập khiễng từ muôn đời trước.

Virginia Woolf nói rất rõ trong tập tiểu luận Căn phòng riêng xuất bản năm 1929: Không có chỗ đứng cho người phụ nữ viết văn từ thế kỉ XIX về trước trong xã hội phương Tây. Không ai xem trọng thơ văn phái nữ. Đàn bà có chút thiên tư dùng ngòi bút diễn tả tâm tư mình, ngay tức khắc, sẽ bị dán lên người nhãn hiệu con mụ điên, thậm chí, con mụ phù thủy già nua xấu xí sống trong ngôi nhà ma quái nơi bìa rừng bị mọi người ghê tởm, lánh xa! Người đàn bà viết văn, làm thơ là người chịu đựng không những mọi bất công của xã hội tỏa chiết lên đầu lên cổ mà còn chẳng bao giờ có đời sống gia đình bình thường, “bởi lúc nào bà cũng phải sống trong tình trạng căng thẳng thần kinh và tiến thoái lưỡng nan, một tình trạng có thể dẫn đến cái chết”. Hậu quả khó tránh là bà sẽ chết tức tưởi và thân xác bà bị vùi chôn trong nấm mồ vô danh nào đó ngoài đồng nội. “Giả sử bà không chết, nhưng ngay cả thế những gì bà viết cũng sẽ bị bóp méo và biến dạng, kết quả của những trí tưởng tượng lệch lạc và bệnh hoạn.”

Thành kiến này ăn sâu trong nếp nghĩ của mọi người đến nỗi ba chị em nhà Brontë đã phải dùng bút danh đàn ông – Currer (Charlotte), Ellis (Emily) và Acton (Anne) Bell – khi xuất bản thơ văn của mình. Nhưng việc làm bất đắc dĩ này lại trở nên hào hứng và thú vị khi công luận và báo chí bàn tán xôn xao về bút danh của ba chị em. Sự tiết lộ tính danh thật của ba người sau đó chỉ làm ồn lên câu hỏi: Làm thế nào ba người phụ nữ bình thường sinh trưởng trong một gia đình mục sư nền nếp tại vùng đồi núi hẻo lánh xa xôi (Yorkshire) lại có thể viết được những tác phẩm với cảm xúc dữ dội, tàn bạo đến vậy? Cuốn Agnes Grey của Anne và cuốn Wuthering Heights (Đồi gió hú) của Emily được nhà Thomas Cautley Newby xuất bản trước cuốn Jane Eyre vài tháng. Đừng quên Emily và Anne cũng là hai tác giả gây tiếng vang không nhỏ với tác phẩm của mình. Sự hiếu kì của đại chúng cộng thêm sự thổi phồng của các kí giả thích loan tin giật gân đã khiến chẳng những ba chị em mà cả gia đình Brontë trở nên huyền thoại.

Tài hoa mệnh bạc

Người cha trong gia đình là mục sư Patrick Brontë (nguyên thủy là Brunty). Ông mở mắt chào đời tại Ireland trong một gia đình nông dân nghèo khổ và có lẽ không ai trong nhà được ăn học ngoại trừ cậu trai Patrick thông minh. Năm 16 tuổi Patrick đã là thầy giáo và sau đó được nhận vào Cambridge học để trở thành mục sư, một thành tựu không tầm thường cho một người Ireland nghèo. Năm 1812 ông kết hôn với cô Maria Branwell, một thiếu nữ sùng đạo và đến năm 1820 hai người có cả thảy sáu mặt con: Maria, Elizabeth, Charlotte, Patrick Branwell, Emily và Anne. Khi cô gái út Anne chưa tròn hai tuổi, Maria Branwell Brontë bị ung thư và qua đời sau một thời gian dài đau đớn trên giường bệnh. Dì Elizabeth Branwell của sáu đứa bé dọn vào ở hẳn với gia đình để chăm sóc các cháu còn thơ dại, ngay sau đó bốn cô con gái lớn được gửi vào trường nội trú Cowan Bridge. Trường học này, do mục sư William Carus-Wilson quản nhiệm, là một cơ quan giáo dục thành lập để dạy dỗ con gái các mục sư nghèo. Carus-Wilson chính là nhân vật Brocklehurst trong Jane Eyre, và trường Cowan Bridge chính là Lowood, nơi Jane theo học sau khi giã từ dinh Gateshead. Như Lowood được miêu tả trong truyện, Cowan Bridge là một ngôi trường với những kỉ luật khắc khe đến độ phi lí, cuộc sống thiếu thốn mọi bề, và các em nữ sinh bị gò ép trong một nền giáo dục giáo điều cứng nhắc. Mục sư Carus-Wilson tin tưởng một cách mù quáng là để cứu rỗi linh hồn, các em nữ sinh phải được uốn nắn theo tinh thần tôn giáo và luân lí triệt để. Kết quả, lưới hái tử thần càn quét trường học, hai cô gái lớn Maria và Elizabeth được cho về nhà khi bệnh lao phổi đã chuyển sang giai đoạn nguy kịch; hai cô chết ở nhà. (Thời ấy bệnh lao phổi tương tự như ung thư phổi thời nay, kẻ mắc bệnh ít ai thoát khỏi cái chết.) Charlotte và Emily thoát chết nhờ kịp thời về nhà, nhưng cái chết của hai người chị đã gây mối thương cảm đau xót sâu xa trong lòng Charlotte, nhất là chỉ một thời gian ngắn sau cái tang của mẹ. Charlotte hay nói về người chị cả Maria như một cô gái tư chất hơn người, thông minh xuất chúng, một thần đồng ở cái tuổi mười một non nớt. (Theo bà nhà văn Elizabeth Gaskell, người viết tiểu sử Charlotte Brontë sau này, thì Maria chính là nhân vật Helen Burns trong Jane Eyre.)

Kế tiếp là thời kì độc đáo đến lạ lùng trong cuộc sống của chị em nhà Brontë. Bốn đứa trẻ – không hơn không kém, bởi ngay cả Charlotte, người chị lớn nhất lúc này, cũng mới chỉ là cô bé gái lên mười – tự học ở nhà, hoàn toàn tách biệt với thế giới bên ngoài, và bởi không biết làm gì để chơi đùa tiêu khiển hằng ngày, bọn trẻ quay ra làm văn thơ! Bốn cô cậu hợp tác viết kịch, truyện dã sử, thơ và tự đóng bìa những cuốn sách be bé xinh xinh cất giữ trong nhà. Đây cũng là thời kì Charlotte tìm đọc những tác phẩm kinh điển của văn học Anh: William Shakespeare, John Bunyan, John Milton, Sir Walter Scott, thi ca của các thi sĩ Lãng mạn thế kỉ XIX, và dĩ nhiên Kinh Thánh. Trong Jane Eyre, chúng ta bắt gặp rất nhiều trích dẫn từ các danh phẩm của các danh hào kể trên bên cạnh các văn thi sĩ khác; và đặc biệt Kinh Thánh luôn luôn là nguồn trích dẫn phong phú, gần như mỗi chương sách đều có.

Thế giới thần tiên của bốn cô cậu trẻ chẳng bao lâu chấm dứt bởi vì cuộc sống tương lai đòi hỏi phải có giáo dục và bằng cấp. Năm 1831, ở tuổi mười lăm, Charlotte được gửi vào học tại trường Roe Head. Tại đây do mặc cảm thiếu nhan sắc và quê mùa Charlotte cảm thấy không thoải mái. Tuy vậy sau bốn năm học hành, từ năm 1835 đến năm 1838, Charlotte trở thành giáo viên dạy học trong trường, và từ 1839 đến 1841 trở thành nữ gia sư trong các gia đình quyền quý. (Rất giống tình cảnh của Jane tại Lowood và Thornfield; khi viết về quãng đời này của Jane, có lẽ Charlotte đã thuật lại những chi tiết thật đời mình). Trong xã hội nước Anh đầu thế kỉ XIX, một phụ nữ xuất thân từ gia cảnh nghèo khó như Charlotte chỉ có thể đạt đến mức độ như thế trong phạm vi nghề nghiệp. Thêm nữa, Charlotte đã khổ sở không ít vì thiên kiến xã hội không mấy thuận lợi và tốt đẹp về phụ nữ làm văn thơ, cuộc sống cực nhọc không có thời gian viết cũng khiến bà chán nản cùng cực. Người ta tìm thấy những dòng chữ như sau trong nhật kí của Charlotte:

Tất cả những ngày tháng này tôi ở trong tâm trạng nửa khổ sở nửa mê hoảng, khổ sở vì chẳng bao giờ tôi có thể làm xong việc gì mà không bị quấy rầy, gián đoạn; và mê hoảng vì hoả ngục hiện lên như một thực tại rực sáng trong trí não tôi.”

Điều gì đã khiến một thiếu nữ hai mươi tuổi bảo là mình như thất lạc trong “miền đất tư tưởng thánh hóa chưa từng thấy bao giờ.” Phải chăng đấy là cảm xúc phẫn nộ, trí óc nổi loạn của con người trước nghịch cảnh, trước xã hội phi lí và bất công? Nên nhớ trong xã hội thời đó gia sư là cái nghề lương thấp, làm việc quần quật suốt ngày và bị bạc đãi như gia nhân. Cả ba chị em nhà Brontë đều thử qua nghề dạy học và chẳng ai thành công. Gia đình chỉ còn biết đặt hi vọng vào Branwell, người con trai duy nhất. Branwell học nghề vẽ chân dung nhưng không đi đến đâu, rồi lăn lộn kiếm sống bằng nhiều nghề nghiệp khác mà vẫn đói kém. Cuối cùng cậu lâm vào con đường nghiện ngập rượu chè, thuốc phiện và chết trẻ trong ô nhục. Cái chết của người con trai là tấn thảm kịch cho gia đình vì ông mục sư kì vọng nhiều vào cậu. (Những bức phác họa chân dung Branwell vẽ bà chị và hai cô em gái nữ sĩ của mình chỉ thuộc hạng a-ma-tơ nhưng sau khi ba chị em nổi tiếng như cồn, chúng được in đi in lại trên sách vở viết về ba người, một điều an ủi cho cậu.) Cái chết của người em trai có nhiều điểm tương tự John Reed, người anh họ của Jane trong Jane Eyre. Thêm lần nữa cho thấy Charlotte đã đem bi kịch gia đình vào tác phẩm.

Charlotte tha thiết muốn theo đuổi nghề văn. Năm 1837 bà thu hết can đảm biên thư cho thi sĩ Robert Southey (1774-1843), kèm theo một số thơ mới sáng tác, xin thi sĩ “soi sáng” giùm con đường văn chương của mình.Thư hồi đáp của Southey là một “huyền thoại” được truyền tụng đến ngày nay:

Văn chương không thể là công việc trong đời sống người phụ nữ, và không nên biến nó thành như thế. Người phụ nữ càng lo toan chu toàn những bổn phận chính đáng của mình càng bớt  thời gian nhàn rỗi suy nghĩ chuyện thơ văn, cho dù chỉ để đạt đến một thành tựu nào đó và giải khuây. Vẫn chưa có ai kêu gọi cô chu toàn những bổn phận ấy, và khi tiếng gọi ấy cất lên cô sẽ bớt háo hức kiếm tìm danh vọng.”

Charlotte phúc đáp ông thi sĩ như sau:

Tôi thú nhận vào buổi tối tôi có nghĩ ngợi này nọ, nhưng không bao giờ tôi gây phiền nhiễu cho ai với những điều mình suy nghĩ . . . Tôi luôn cố gắng chẳng những quan sát tường tận tất cả những bổn phận người phụ nữ phải chu toàn, mà còn dốc tâm trí mình vào những công việc đó. Không phải lúc nào tôi cũng thực hiện một cách đúng đắn, bởi đôi khi trong lúc dạy học hay may vá tôi ước ao được đọc sách và viết; nhưng tôi cố tự chối bỏ mình . . . Một lần nữa xin cho tôi cảm ơn ngài đã có lời khuyên chân thật. Tôi tin là tôi sẽ không bao giờ có tham vọng nhìn tên tuổi mình in trên mặt giấy; giả sử có lúc nào đó tham vọng ấy nổi lên thì tôi sẽ lấy ra đọc lại lá thư của ngài và kềm hãm nó lại.”

Qua lời lẽ trong thư phúc đáp của Charlotte, chúng ta không khó khăn nhìn ra sự cay đắng và phẫn nộ trước thành kiến khó gột rửa của người đời. Khi viết Jane Eyre, Charlotte đã không che giấu cảm xúc bức bối ấy của mình, bà khẳng định giá trị tính cách độc lập và vị trí người phụ nữ trong đời sống bên ngoài phạm vi gia đình. Cuốn sách nêu ra các luận điểm về vai trò phụ nữ trong xã hội mà mãi gần nửa thế kỉ sau mới bắt đầu được bàn tán sôi nổi để châm ngòi cho trào lưu “Nữ quyền” như chúng ta biết ngày nay. Về điểm này, Jane Eyre quả đã đi trước thời đại rất nhiều.

Tất cả nhờ lá thư của ngài thi sĩ Southey!

Năm 1842 Charlotte và Emily sang Brussels, thủ đô nước Bỉ, theo học tại Pensionnat Héger với hi vọng bổ túc kiến thức chuyên môn (như Pháp văn) để về quê nhà mở trường dạy học. Mặc dù việc mở trường sau khi về nước là một thất bại (không một học sinh nào ghi danh), thời gian lưu trú ở lục địa đã ảnh hưởng sâu sắc lên tâm hồn và trí lự hai chị em, nhất là Charlotte. Tại đây Charlotte yêu người thầy của mình, ông Constantin Héger, một người đã có vợ. Và phải chăng Charlotte đã dàn trải tâm sự đau đớn của mình qua mối tình của Jane với ông Rochester? Dầu sao chăng nữa, sau mấy năm học chị em trở về đoàn tụ cùng gia đình ở Haworth, và với trí lực sung mãn, tâm hồn sôi động, họ nhất quyết đi vào con đường làm văn.

Năm 1846, Charlotte khám phá ra những bài thơ của Emily giấu trong ngăn kéo. Ba chị em dùng bút danh nam Currer, Ellis và Acton Bell cùng xuất bản một tập thơ. Thoạt đầu Emily không chịu in thơ mình nhưng bị Charlotte thuyết phục mãi, cả quyết giá trị nghệ thuật những bài thơ, nên nhận lời tham gia. Tập thơ xuất bản, trước sau bán được vỏn vẹn hai cuốn, nhưng ba chị em không nản lòng. Mùa hè năm 1847, vẫn ẩn giấu dưới những bút danh xa lạ kia, Emily tung ra cuốn Wuthering Heights (Đồi gió hú); và Anne, cô em út trong nhà, không chịu kém thua chị mình với cuốn Agnes Grey (kể chuyện một cô giáo nghèo). Charlotte chậm chân hơn một chút, phải đợi đến mùa Giáng Sinh năm đó mới xuất bản Jane Eyre.

200px-jane_eyre_title_page

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Jane Eyre, ấn bản lần thứ nhất ghi là: Tự truyện, biên tập bởi Currer Bell, 1847

Ba cuốn sách tuyệt hay ra mắt cách nhau vài tháng là một biến cố văn học hiếm có dù là ở thời đại nước Anh sản xuất ra lắm bậc vĩ nhân. Tuy vậy không người nào biết tác giả thật là ai, và ai nấy ngơ ngác nhìn nhau rồi xôn xao bàn tán. Người bảo tác giả không phải là đàn ông (rất đúng), người quả quyết ba “anh em” ấy thật ra chỉ là một người (sai bét). Ba chị em giấu kín tung tích mình đến nỗi ngay cả người thân trong nhà và bạn bè xung quanh cũng không hay biết. Cho đến khi có kẻ tung tin đồn rằng tác giả Jane Eyre là nữ gia sư trong gia đình văn hào William Makepeace Thackeray (1811-1864) thì sự việc mới bắt đầu được soi sáng. Thackeray là một tiểu thuyết gia lừng lẫy thuở đó, ông nổi tiếng với nghệ thuật châm biếm, viết cuốn Vanity Fair (Hội chợ phù hoa), cũng thuộc loại kinh điển, nói lên cái phù phiếm, ruỗng nát cùng thói đạo đức giả của giới quý tộc thượng lưu nước Anh lúc đó. Charlotte mến mộ văn chương ông nhà văn này lắm, và mặc dù không quen biết, với ấn bản thứ hai của Jane Eyre, bà đã đề tặng cuốn sách cho ông với lời lẽ hết sức trân trọng. Trước đó, ông nhà văn cũng có lời lẽ tán dương cuốn sách, trong đó có đoạn nói ông đã chảy nước mắt khi đọc những đoạn viết về tình yêu. Vợ ông nhà văn mắc bệnh tâm thần. (Sao giống Bertha, vợ ông Rochester trong truyện đến thế? Chắc hẳn có kẻ xấu mồm độc miệng đặt câu hỏi này.) Vì thế mới có những lời thêu dệt đồn đại vô cùng độc ác về gia thế và cuộc đời tác giả Jane Eyre. Bởi sống tách biệt với thế giới bên ngoài, những lời lẽ không mấy đẹp ấy mãi về sau mới lọt đến tai Charlotte và bắt buộc bà phải bạch hóa mọi chuyện để tránh tiếng xấu cho gia đình Thackery. (Thời đó, quần chúng mê đọc những “tin nóng” về đời tư văn nghệ sĩ như ngày nay chúng ta bỏ cả giờ mỗi ngày lên mạng đọc những chuyện “giật gân” hết sức tào lao và vô bổ của các ca sĩ nổi tiếng, siêu sao màn bạc, cầu thủ bóng đá, vân vân.)

Bên cạnh những điều phù phiếm ấy, chị em nhà Brontë nhận được khá nhiều lời khen chê từ giới học giả và phê bình. Nói chung, ít ai quan tâm đến cuốn sách mỏng của cô út Anne, nhưng mọi người có vẻ gay gắt, thậm chí phẫn nộ, với cuốn Wuthering Heights của Emily, đa số lên án cuốn sách là vô luân. Riêng Charlotte thì may mắn hơn. Nhà phê bình uy tín nhất thời đó, ông George Henry Lewes, thấy Jane Eyre là một chuyện tình “lạ lùng” nhưng viết tiếp, “Đã lâu lắm rồi không có cuốn sách nào khiến mắt chúng ta được thỏa mãn như thế khi đọc.” Nhà văn Thackeray không tiếc lời ca ngợi, trong lá thư gửi cho nhà xuất bản ông bảo ông không buông cuốn sách xuống được. Nhưng người chê cũng lắm, điển hình là Lady Eastlake viết trên tờ Quarterly Review số tháng chạp năm 1848. Sự chê bai phần lớn dựa trên quan điểm luân lí khắc nghiệt vốn là nền tảng văn hóa dưới triều đại nữ hoàng Victoria, tính cách vô luân trong tác phẩm bị đem ra công kích dữ dội. Họ cũng chê nội dung câu chuyện thiếu sự nhất quán và tính thuyết phục. Và nhân vật phụ nữ chính diện thì quá “nổi loạn” đến nỗi không có đủ tiết hạnh cần thiết cho một “mẫu mực phụ nữ đoan chính trong xã hội.” Lady Eastlake cũng bảo đấy là một cuốn sách “thiếu nữ tính” và khẳng định tác giả nó phải là nam giới. Bà nói thêm nếu tác giả là nữ giới thì đấy là người đàn bà “hoàn toàn chối bỏ xã hội những người cùng giới tính với mình.”

Không rõ ba chị em phản ứng ra sao trước búa rìu dư luận, nhưng chắc chắn sự đau buồn vô tả đã đổ ập xuống mái nhà Haworth với cái chết của anh con trai Branwell và ngay sau đó Emily rồi Anne cũng lần lượt qua đời vì lao phổi. Cả nhà sáu người con chỉ còn mỗi Charlotte sống sót ở lại dương thế chăm sóc người cha già trong cô độc. Càng buồn Charlotte càng viết hăng. Hai cuốn tiểu thuyết xuất bản trong thời gian này, cuốn Shirley và cuốn Vilette đều đem lại nhiều thành công và tiếng vang tốt. Nhưng nỗi buồn vì mất mát thì không thể nào hàn gắn, chưa kể nỗi buồn có thể sẽ phải làm đàn bà “không chồng ở giá” suốt đời. Thư từ Charlotte viết trong giai đoạn này cho thấy nỗi đau đớn của một kiếp người phù du, mệnh bạc.

Tuy thế những năm tháng sau đó cuộc sống của Charlotte có phần tươi vui hơn vì càng ngày bà càng được đánh giá như một tiểu thuyết gia có chân tài. Bà cũng hay thăm viếng London, tại đây bà gặp gỡ những nhân vật sáng chói trong văn giới như nhà phê bình Lewes và chính Thackeray. Bà cũng gặp nữ sĩ Elizabeth Gaskell. Hai người trở nên bạn chí thiết, chính bà Gaskell là người viết tiểu sử Charlotte sau khi bà qua đời. Cuốn sách tiểu sử đó cũng là một danh phẩm giá trị.

Năm 1854, Charlotte đột ngột lập gia đình. Người bà lấy làm chồng là mục sư Arthur Bell Nicholls, trợ tế cho cha bà trong giáo xứ và là người quen biết lâu năm với gia đình. Thoạt đầu cha bà phản đối cuộc hôn nhân dữ lắm vì Arthur chẳng những nghèo kiết xác mà còn xấu trai, kém thông thái, lại chẳng có tài năng gì về nghệ thuật. Charlotte cũng chẳng yêu anh chàng mục sư cù lần ấy. Nhưng sự thật là Charlotte lúc nào cũng nghĩ mình không có nhan sắc, thậm chí không ai yêu nổi. Chính lòng chung thủy và sự kiên trì theo đuổi tình yêu trong nhiều năm của người đàn ông đã dần dà cảm hóa bà. Thế là ở tuổi ba mươi tám, Charlotte từ bỏ những giấc mơ lãng mạn để trở thành một người vợ bình thường và đôi khi bà ngạc nhiên thấy mình cũng có hạnh phúc.

Nhưng oái oăm thay, số kiếp oan nghiệt không cho hạnh phúc ở lâu dài với người đàn bà tài hoa mệnh bạc. Thuyết “Tài mệnh tương đố” không hẳn chỉ có bên trời Đông. Lấy chồng chỉ được vài tháng Charlotte ngã bệnh nặng và nhắm mắt lìa đời vào tháng 3 năm 1855, lúc tuổi đời chưa quá bốn mươi. Có nhiều giả thuyết về cái chết của Charlotte, như bà chết vì hư thai, nhưng giả thuyết khả tín nhất vẫn là bệnh lao (như các chị em của bà) hay sốt thương hàn (vốn hoành hành vùng đất nhà bà suốt thế kỉ XIX). Không có bằng chứng nào cho thấy bà có thai lúc chết.

Cuộc cách mạng Nữ quyền

Lòng ngưỡng mộ của công chúng đối với hai tác phẩm tiểu thuyết Wuthering Heights của Emily và Jane Eyre của Charlotte càng lúc càng gia tăng sau cái chết của hai người. Từ cuối thế kỉ XIX trở đi, giá trị văn học của hai tác phẩm được giới nghiên cứu và phê bình đánh giá một cách nghiêm túc hơn. Thế nhưng cho đến đầu thế kỉ XX, đa phần những nhận định vẫn chỉ quanh quẩn ở chủ đề tâm lí học tổng quát, chẳng hạn như ý kiến của nhà phê bình Thomas Moser hay nhà viết tiểu sử Helene Moglen, cho rằng Jane Eyre là hệ quả tất yếu bộc phát do những “ẩn ức sinh lí” mà thủ phạm chính là nền luân lí Victoria bảo thủ. (Nghe tương tự quan điểm của giới trí thức Việt Nam ta hồi đầu thế kỉ XX đối với thơ Hồ Xuân Hương.) Về nội dung, công bằng mà nói, cuốn tiểu thuyết vướng phải một số nhược điểm tiêu cực như sau: thứ nhất, quá nhiều những biến cố tình cờ, không thật (đặc thù của văn chương Victoria); thứ hai, khuôn mẫu hình tượng anh hùng dựa trên tính cách của chủ nghĩa Byron (người anh hùng được lí tưởng hóa với những tính cách như: đa tài, nhiều đam mê, xem rẻ người đời, khinh khi các lề thói xã hội đương thời, sống phóng đãng, hay nổi loạn, có xu hướng tự huỷ, có thể chết vì tình yêu, vân vân); và thứ ba, các nhân vật bị chi phối ít nhiều bởi yếu tố tôn giáo hoặc giáo điều. Đứng từ góc nhìn tâm lí học cộng với tất cả những nhược điểm ấy đã không mở lối cho cuốn sách trở nên một tác phẩm kinh điển hàng đầu.

Mọi chuyện biến đổi mau chóng sau khi Nữ quyền luận trở nên phổ cập và được công nhận trong ngành phê bình văn học vào nửa sau thế kỉ XX.

Nữ quyền là một phong trào xã hội khởi đi từ cuối thế kỉ XIX ở hai quốc gia Anh, Mĩ với mục đích tranh đấu cho quyền lợi người phụ nữ. Sang thế kỉ XX nó biến thành cao trào có tầm ảnh hưởng to rộng phủ trùm lên nhiều địa hạt tư tưởng và lĩnh vực nhân văn khác nhau của đời sống nhân loại. Riêng bên lĩnh vực văn học, vào nửa sau của thế kỉ, Nữ quyền luận nghiễm nhiên trở nên một luận thuyết vững chắc, đề xuất bút pháp nữ (thuật ngữ Écriture féminine một hôm không biết từ đâu bỗng xuất hiện khiến mọi người ngỡ ngàng). Dưới luồng sáng của Nữ quyền luận, cách đọc tác phẩm văn học của các tác giả phái nữ, kể cả tác phẩm kinh điển, cũng được giới học giả và phê bình đánh giá lại. (Đáng ghi nhận trong những nỗ lực này là công trình bứt phá của Sandra Gilbert và Susan Gubar với cuốn The Madwoman in the Attic [Người đàn bà điên trên gác xép] xuất bản năm 1979.)

Nhờ thế, người ta đọc Brontë với con mắt mới mẻ hơn và có thể cảm thông trọn vẹn hơn về đường lối tác giả quyết liệt đặt lại vai trò người phụ nữ và cố tấy xóa những định kiến bất công và lỗi thời. Kết quả là sự thông hiểu có sắc thái hơn về bản chất những nghịch lí trong tác phẩm, vốn là một tổng hợp gò ép khó hòa giải giữa sự nổi loạn của tâm hồn đối với xã hội và chủ nghĩa bảo thủ tôn giáo. Trước đó, các nhà nghiên cứu văn học chỉ chú ý đến nguồn đối lực giữa hai chủ thể trái nghịch trong tác phẩm mà họ đặt tên là: Sống theo tự nhiên – sống được giáo huấn; đời sống riêng tư hướng nội – đời sống cộng đồng hướng ngoại; cảm xúc đam mê – lí trí suy xét; lãng mạn chủ nghĩa – duy lí chủ nghĩa; vân vân. Nhà nghiên cứu Nữ quyền luận giờ đây có thể xem xét lại sự phân bố giản đơn và có tính công thức này để quy chiếu tầng ý nghĩa của tác phẩm lên một chiều kích mới mẻ, phức tạp hơn.

Một phương cách để thấu hiểu cấu trúc của Jane Eyre là nhìn nó dưới góc độ câu chuyện của một con người bình thường đi kiếm tìm hạnh phúc, và trong lúc kiếm tìm phải luôn luôn giữ thế cân bằng giữa hai lực đối kháng rất khó hòa giải là luân lí và bản năng. Jane là một cô gái bình thường, bất hạnh, lại không có nhan sắc. Điều này đi ngược lại quy luật bất thành văn của tiểu thuyết thời đó: người đàn bà chính diện phải đẹp, ngọt ngào, hiền dịu. Ở đây chúng ta thấy ngay dụng ý của tác giả. Jane chẳng những không đẹp (tư dung thường thường chẳng có gì đặc biệt, thân người bé loắt choắt) lại còn có tính hay châm biếm và nói thẳng, thế nhưng nhờ vào trí lự thông minh cộng thêm ý chí mạnh mẽ, Jane đã vượt qua bao nghịch cảnh để đạt đến hạnh phúc. Phải chăng đấy là cái tinh thần sống và muốn sống như con người, cái human spirit mà muôn đời được ca tụng? Sống như một con người nghĩa là sống như một cá nhân với tất cả giá trị và tình thương cá nhân đó xứng đáng thừa hưởng. Sự nổi loạn do lòng phẫn nộ của Jane năm lên mười chẳng qua chỉ là hình thức biểu hiện (bởi không biết làm sao khác hơn) của một đứa bé tha thiết muốn sống như thế. Kì thực, trong suốt cuốn tiểu thuyết, niềm xác tín của Jane là: không nên xác định giá trị con người dựa trên sự cao thấp khác biệt của nấc thang xã hội.

Ý thức Nữ quyền hiển lộ rõ hơn trong suy nghĩ của Jane khi nàng chuẩn bị cho con đường tương lai từ cô gái học trò thành nữ gia sư trong một gia đình giàu sang:

“Quả là vô ích khi bảo người ta nên hài lòng với một cuộc đời bình lặng. Con người phải luôn hành động, và nếu không tìm được sở trường để hành động thì họ phải tự tạo ra. Hàng triệu người còn phải chịu số phận buồn chán phẳng lặng hơn tôi, và hàng triệu kẻ âm thầm nổi loạn chống lại số phận. Không ai biết ngoài những cuộc nổi loạn vì lý do chính trị còn có bao nhiêu cuộc nổi loạn nữa đang được ủ men trong những khối sự sống này. Nói chung, phụ nữ thường được xem là điềm tĩnh, nhưng cảm xúc của họ có khác gì đàn ông đâu. Họ cần rèn luyện những năng lực của bản thân và họ cần môi trường để thực hiện hoài bão y như các đấng mày râu. Họ khốn khổ vì sự kiểm soát quá đỗi cứng nhắc, sự giam hãm quá độc đoán. Đàn ông mà rơi vào hoàn cảnh của họ thì cũng khốn khổ như thế mà thôi. Và nếu những đồng loại được ưu đãi hơn ấy bảo họ nên tự giới hạn mình trong những công việc bếp núc, may vá, chơi đàn hoặc thêu thùa thì quả là hẹp hòi. Còn những kẻ chỉ trích hoặc chê cười họ khi họ tìm cách học hỏi hoặc làm nhiều điều hơn những gì mà tập quán xưa nay vẫn bảo là cần thiết với giới tính của họ thì quả là ích kỷ.” (Chương XII)

Từ đấy chúng ta có thể suy nghiệm thêm là ý niệm Nữ quyền bàng bạc trong tác phẩm. Ngoài những câu văn trực tiếp đề cập đến vấn đề Nữ quyền trích dẫn bên trên, nó còn được biểu hiện qua hành vi cô bé Jane lên mười đánh trả lại thằng bé John Reed hung tợn, nó là thái độ ung dung tự tại của Jane trước thái độ hống hách chứng tỏ quyền uy chủ nhân của ông Rochester, và Jane chỉ chịu lấy ông Rochester sau khi nàng trở nên độc lập, không tùy thuộc vào ai, kể cả người chồng. Có thể dưới mắt chúng ta ngày nay những sự kiện này giản đơn một cách buồn cười, nhưng đừng quên suốt thời trung đại và cận đại ở phương Tây nó là vấn đề cực kì nhức nhối cho phụ nữ, chúng ta không nên xem thường nó, vì nó mà có không ít phụ nữ can đảm chết oan khuất trên dàn hỏa thiêu, chết theo cả nghĩa bóng lẫn nghĩa đen.

Một chuyện tình Lãng mạn vượt thời gian

Một chuyện tình vượt thời gian! Nghe sáo quá, phải không? Nhưng thú thật tôi không biết phải gọi chuyện tình giữa Jane và ông Rochester bằng ngôn từ gì cho đúng. Oan trái? Oan khiên? Lạ lùng? Tội lỗi? Đen tối? Vô luân? Thánh thiện? Thánh hoá? Đẹp? Kinh khủng? Khiếp đảm? Ghê rợn? Hay tất cả những tính từ trên chí ít đều đúng nếu nhìn từ một góc độ nào đó? Chỉ biết một điều là cho đến ngày nay người ta vẫn bị nó mê hoặc. Có cái gì kì bí, vượt lên trên mọi lí giải thông thường ẩn nấp bên dưới cốt truyện và cá tính các nhân vật trong cuốn tiểu thuyết khiến sức lôi cuốn của nó vượt qua mọi rào cản ngôn ngữ hay văn hóa nhân loại.

Chuyện tình giữa Jane Eyre và ông Rochester bắt đầu từ chương XI, lúc Jane vào làm nữ gia sư trong gia đình Rochester ở dinh Thornfield và chẳng bao lâu nàng đem lòng yêu người đàn ông chủ ngôi nhà. Ông Rochester là một người đàn ông lập dị, thậm chí quái đản. Dưới mắt nhìn của nhà tâm lí học thì đấy là khuôn mẫu hình tượng anh hùng dựa trên tính cách của chủ nghĩa Byron. Ông có một quá khứ cực kì đen tối, và cũng như Jane, bị ném ra khỏi ngôi nhà tình yêu, gia đình. Mặt mày ông xấu xí, tính tình thô lỗ, ăn nói bộc trực, luôn luôn tỏ vẻ khinh khi những thói rởm đời của đám quý tộc trưởng giả mặc dù ông cũng xuất thân từ đó mà ra. Sau khi cuộc hôn nhân thứ nhất đổ vỡ, ông tự chọn một cuộc sống phóng đãng chạy theo các thú vui nhục dục, dùng đồng tiền mua chuộc tình yêu hay đúng hơn thân xác đàn bà.

Điều bất ngờ là, với một tính cách khác thường như thế, Jane lại thấy “gần gũi” ông hơn. Jane hiển nhiên không phải là nhân vật tiểu thuyết điển hình tràn ngập thị trường chữ nghĩa thế kỉ XIX. Chẳng những sắc diện, nhân dáng nàng không có gì đặc biệt, nàng còn nhất quyết xem trọng giá trị của cảm xúc tự thân, vốn thường bị xem là không thích hợp với hạng phụ nữ thượng lưu cao quý. Jane nói với ông Rochester như sau khi nàng tin là sắp phải xa ông:
“Cơn xúc động mãnh liệt mà nỗi đau và tình yêu đã dấy lên trong tôi đòi lấn át tất cả và đấu tranh để được làm chủ hoàn toàn, rồi khẳng định quyền chiếm ưu thế, quyền được sống, quyền được nổi lên và cuối cùng là quyền thống trị: phải – và quyền được nói.” (Chương XXIII)

Qua câu nói, tác giả đã một lần nữa quả quyết xác nhận tính cách và cảm xúc (của người nữ) là những giá trị quan trọng, chúng nổi bật bên cạnh tính phù phiếm và rỗng tuếch của đám công nương, tiểu thư con nhà quyền quý, trưởng giả (như công nương Blanche, “tình địch” của Jane). Và khi ông Rochester cầu hôn Jane thì tình yêu Lãng mạn có vẻ như mưu toan lật đổ toàn bộ trật tự xã hội. (Xin hiểu từ “Lãng mạn” viết hoa ở đây không có ý nghĩa như chúng ta hiểu ngày nay mà nên hiểu nó, ở chừng mực nào đó, trong ngữ cảnh thi ca Lãng mạn của William Blake hay âm nhạc Lãng mạn của Ludwig van Beethoven.) Tình yêu Lãng mạn được định nghĩa là sự hài hòa trong tâm trí, là “thấu hiểu nhau một cách sâu sắc”, là vượt qua tất cả những định kiến của huyết thống, giai cấp và quyền lực như được miêu tả trong cuốn Lòng tự phụ và thành kiến của Jane Austen. Chấp nhận như thế, chúng ta sẽ không mấy khó khăn nhận ra Jane là một “người tình Lãng mạn” và những mộng ước Lãng mạn của nàng – sâu sắc, tự nhiên và ngay thẳng – luôn luôn tương phản với tính nông cạn và ích kỉ của các nhân vật nữ khác như công nương Blanche, vũ nữ Céline, thậm chí cả cô bé Adèle. Họ là những người đàn bà dùng sắc đẹp và lời ngon tiếng ngọt tự dâng hiến mình cho đàn ông để được người đàn ông đoái hoài, yêu thương.
Jane tuyên bố như sau về tình yêu với ông Rochester:

“Ông nghĩ tôi là cái máy ư? Một chiếc máy không cảm xúc có thể chịu đựng để miếng bánh bị giật khỏi miệng và ngụm nước sinh mệnh bị hắt đi sao? Ông nghĩ chỉ vì tôi nghèo khó, vô danh tiểu tốt, nhan sắc tầm thường và thân hình thấp bé thì không có tâm hồn và trái tim ư? Thế thì ông nhầm rồi! Tâm hồn tôi, trái tim tôi cũng phong phú không kém gì ông! Và nếu Chúa ban cho tôi chút nhan sắc và của cải thì lúc đó tôi sẽ khiến ông khó lòng mà rời bỏ tôi được, giống như tôi bây giờ. Tôi không nghĩ lúc này tôi đang nói chuyện với ông theo phong tục hay quy ước xã hội, thậm chí cũng không phải bằng cái xác tục, mà là linh hồn tôi đang nói chuyện với linh hồn ông, như thể hai ta vừa sang thế giới bên kia và đang đứng dưới chân Chúa, bình đẳng với nhau, như lúc này đây!” (Chương XXIII)

Đấy là lúc ông Rochester ve vãn, tỏ tình và cầu hôn Jane trong lúc hai người ngồi trong khu vườn rậm rạp cây lá đầy tình tứ thơ mộng đằng sau dinh Thornfield vào một đêm hè tĩnh lặng chan hòa ánh trăng. Câu nói của Jane là một ngoại lệ. Một người đàn bà khác, giữa khung cảnh không gian lãng mạn như thế, chỉ biết ngả đầu vào ngực người đàn ông thôi.

Sự thật là, ngay sau khi tỏ tình và được Jane ưng chịu kết hôn, ông Rochester đã dùng đủ mọi mánh khóe và quyền uy để tìm cách khuất phục Jane, bắt Jane thần phục mình, nằm dưới tay mình như ông từng làm với những người đàn bà khác. Thậm chí ông còn đem vàng bạc lụa là ra quyến dụ Jane. Nhưng ông thất bại vì trước sau như một Jane không hề bị những thứ ấy mua chuộc và nàng còn bướng bỉnh chống lại mọi hành vi chứng tỏ uy quyền của ông đến nỗi ông phát cáu. Bằng thái độ không khoan nhượng nhưng vẫn khéo léo ôn nhu, con người độc lập của Jane chiến thắng mọi mưu toan thống trị của người đàn ông, một điều chưa từng thấy xảy ra trong tiểu thuyết trước đó.

Đây cũng là lúc Jane mơ những giấc mơ quái dị dự báo những điều chẳng lành sau đó. Và chuyện kinh khiếp Jane khám phá (đúng hơn bị phanh phui) ngay ngày cưới của mình, đó là ông Rochester trong nhiều năm nhốt bà vợ điên trong một căn phòng bí mật trên lầu ba của dinh Thornfield. Dựng nên tình tiết độc đáo này, Charlotte Brontë đã giải quyết được vấn nạn tìm lối thoát cho tình cảm lãng mạn của đam mê và hoan lạc mà có thể gọi là con đường đạo hạnh của luân lí và truyền thống Cơ đốc giáo.

Tình yêu Lãng mạn có một liên hệ khá mơ hồ với hệ thống đức tin Cơ đốc giáo khi giá trị nhân văn và cảm xúc cá nhân được đem ra đối nghiệm. Cho đến thời điểm này, tình yêu và đam mê chế ngự tâm tư Jane. Mặc dù linh cảm có cái gì không ổn đằng sau tình yêu của mình, nàng vẫn bám víu lấy hi vọng con đường tìm kiếm hạnh phúc của mình sắp đến đoạn cuối. Nhưng sự xuất hiện của Bertha điên loạn, bò dưới đất như một con thú hoang hung tợn nhào đến cắn xé ông Rochester lúc ông bảo mọi người có mặt xung quanh “Vợ tôi đấy!” trong nỗi chua chát và khổ đau cùng kiệt, đã làm sụp đổ mọi mộng ước Lãng mạn trong tâm hồn Jane. Mọi chuyện vỡ lở, bí mật bao nhiêu năm bị phanh phui, ông Rochester lại ngon ngọt dụ dỗ Jane dọn xuống miền Nam nước Pháp làm lại cuộc đời với ông. Nhưng đời nào Jane chịu nghe lời, một buổi sáng tinh sương nàng âm thầm bỏ dinh Thornfield đi về nơi vô định, chấp nhận mọi khổ ải, đớn đau xảy đến cho mình sau đó. Jane bỏ đi không phải do lòng phẫn nộ vì bị lừa phỉnh, nàng cũng không chút nghi ngờ tình yêu của ông Rochester, và nàng vẫn yêu ông tha thiết. Sở dĩ nàng bỏ đi là vì lòng tự trọng một phần và phần khác chính là luân lí và tôn giáo hiển thị dưới dạng thức vô thức tập thể từ ngàn xưa ăn sâu tâm hồn mà có lẽ chính nàng cũng không hay biết. Charlotte Brontë đã không cho cảm xúc vỡ tràn và bản năng dục vọng lấn át luân lí bởi làm thế là phá vỡ thành trì truyền thống và tạo nguy cơ đảo lộn sự hài hòa và trật tự của xã hội.

Ông Rochester là người sống theo chủ nghĩa Tự nhiên, ông không tuân theo mệnh lệnh của ai ngoài cảm xúc và bản năng dục vọng của chính mình. Ông gạ gẫm Jane về sống ngoại hôn với ông ở một nơi khác, tránh búa rìu dư luận. Ở thời đại chúng ta, điều này chẳng có gì đáng nói và hầu hết đều được xã hội chấp nhận dễ dàng. Nhưng cuốn tiểu thuyết làm chúng ta cảm phục đức tính mạnh mẽ của Jane khi nàng quyết chí gạt bỏ cảm xúc đam mê để quay về những nguyên tắc truyền thống mà nàng cho là phổ quát, bởi nếu không thì cuộc sống này chắc sẽ tan rã mất thôi.

Đối lực giữa cái “tự nhiên” và luân lí truyền thống tôn giáo đã làm tốn không biết bao nhiêu giấy mực của nhân loại – Tây cũng như Đông – nhất là trên bình diện văn học. Trong Jane Eyre, cái “tự nhiên” có vẻ như được đặt nặng hơn, được ưu ái hơn, ở mặt tâm lí học lẫn mĩ học, và đó là lí do tại sao cuốn tiểu thuyết bị các nhà đạo đức (giả) đương thời lên án. Cái “tự nhiên” liên minh với trí tưởng tượng, cảm xúc, xung lực nội tại, dục vọng, tính phản kháng, và cái tôi, tất cả nhất tề đứng lên chống lại cái duy lí. Cái “tự nhiên” dẫn đến Lãng mạn chủ nghĩa, đến “cái tôi” và “cảm xúc của tôi.” Về điểm này chúng ta không ngạc nhiên vì Jane Eyre xuất hiện gần như cùng thời với hội họa Eugène Delacroix và âm nhạc Frédéric Chopin, thời đại hoàng kim của Lãng mạn chủ nghĩa.

Cái “tự nhiên” đúng hay sai, cho đến ngày nay, vẫn chưa có câu trả lời thỏa đáng.

Cuộc sống của Jane bước vào khúc quành mới khi nàng lưu lạc đến Marsh End. Tại đây, nàng ngẫu nhiên gặp những người thân trong dòng họ và ngẫu nhiên kế thừa một gia tài kếch sù do ông chú nàng ở nước ngoài qua đời để lại. (Ngẫu nhiên là một thuộc tính quen thuộc gần như cố hữu trong dòng văn chương Victoria.) Nhưng bên cạnh sự may mắn không ngờ đó, một lần nữa nàng lại phải đối đầu với cái đối lực bất khả hòa giải giữa tôn giáo và cảm xúc. Người anh họ của Jane, một mục sư trẻ tên St. John Rivers, cầu hôn nàng (thời đó xã hội Anh cho phép người trong họ lấy nhau), nhưng anh muốn lấy Jane làm vợ không phải do tình yêu mà chỉ vì muốn Jane trở thành người trợ tá đắc lực cho anh trong việc phụng sự truyền giáo. Con người anh tốt lành nhưng khô cứng, tình cảm che giấu, thậm chí khó thương. Anh và ông Rochester là hai thái cực, ông Rochester muốn tình yêu nhưng không có hôn nhân, ngược lại, St. John muốn hôn nhân nhưng không có tình yêu, và dĩ nhiên Jane khước từ cả hai. Cả hai đều phơi bày tham vọng người đàn ông muốn “làm chủ” cuộc đời người đàn bà, và sự phấn đấu của Jane trong gọng kìm hai người đàn ông đó là cuộc chiến đấu muôn đời giữa ý chí và tự ngã, ý chí của người nữ, tự ngã của người nam. Cuộc chiến đó kéo dài cho đến ngày nay, không hề ngưng, và có lẽ nó vẫn tiếp diễn cho đến khi loài người không còn hiện diện trên mặt đất này nữa.

Cuối cùng Jane quay về ông Rochester vì lúc đó nàng là người độc lập và ông Rochester “ngang hàng” với nàng. (Ông nay là người tàn phế, mắt mù, do trận hỏa tai gây nên bởi bà vợ điên một đêm nổi lửa đốt tòa lâu đài rồi nhảy từ sân thượng xuống nền đá chết nát thây.) Cuối cùng hạnh phúc đến với Jane. Charlotte Brontë đã cho một kết luận “có hậu” vào cuốn tiểu thuyết.

je_postcard

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Jane Eyre, một ấn bản cuối thế kỉ XIX

Quy ước không là luân lí . . .

Jane không chịu trở thành tình nhân của ông Rochester bởi nàng tin tưởng nhiệt thành vào lòng tự trọng và giá trị luân lí. Nàng cũng không chấp nhận lời cầu hôn của St. John Rivers bởi nàng không thể kết hôn với người đàn ông không có tình yêu với nàng. Hai người đàn ông, hai thái cực, một bên phóng đãng, hung bạo, có tình yêu và một bên nghiêm túc, nệ giáo, không có tình yêu. Jane không tin theo ai, nàng chọn trung đạo và đề xuất một căn bản luân lí đạo đức biểu hiện bởi tam giác: tình yêu, tính cách độc lập và lòng tha thứ.

Trong suốt cuốn tiểu thuyết, Jane lúc nào cũng gắng sức duy trì sự quân bằng giữa bổn phận luân lí và hạnh phúc trần gian. Nàng ghê tởm tính cách đạo đức giả của mục sư Brocklehurst. Đối với St. John Rivers, tuy mến thương và cảm phục như một người anh cả nhưng nàng không hề thấy rung động trước tình cảm khô cứng của người mục sư trẻ tuổi và điển trai ấy. Chúng ta hiểu tại sao. St. John là môn đệ trung thành của thần học Calvin, và lòng xác tín của anh có những chỗ bất xứng, không phù hợp tâm hồn Jane, một tâm hồn luôn theo dõi nhịp đập của trái tim nhưng không bao giờ giẵm xuống bùn lầy của cảm xúc. Trong thời gian theo học ở Lowood, Jane thương mến người bạn gái tên Helen Burns, nàng cảm nhận được tâm hồn thánh thiện như thiên thần của Helen, nhưng tấm lòng độ lượng không bến bờ của Helen – tha thứ ngay cho kẻ trừng phạt và hành hạ mình một cách vô cùng tàn nhẫn và phi lí – chỉ khiến Jane bâng khuâng, ngờ vực. Hình như Jane không trung thành và tuân giữ những giáo điều Cơ đốc giáo một cách tuyệt đối và mù quáng. Đúng ra nàng tin tưởng vào giá trị luân lí truyền thống. Đó là lí do vì sao nàng bỏ dinh Thornfield ra đi trong nỗi đau đớn tột cùng sau khi biết ra sự thật ông Rochester bao nhiêu năm nhốt bà vợ mình trong căn phòng kín. Cũng bởi giá trị luân lí truyền thống này, Jane chỉ chịu lấy ông Rochester sau khi vợ ông chết.

Tôn giáo được dùng để hòa giảm suy nghĩ cùng hành vi của Jane trong những lúc tâm trí xung động, hay lâm vào cảnh huống khốn cùng, nhưng không bao giờ nàng đè nén hoặc chôn vùi bản ngã chân xác của mình. Đọc cuốn sách chúng ta thấy tác giả trích dẫn rất nhiều Thánh Thư, đa phần là Phúc Âm Chúa Jesus Christ, nhưng đừng vội kết luận bà là người nệ giáo. Ngược lại là đằng khác. Dù sinh trưởng trong một khí hậu thấm đẫm tinh thần Cơ đốc giáo, bà không mù quáng tin theo các tín điều bị các đầu óc lệnh lạc diễn giải một cách cứng nhắc, hẹp hòi. Trong lời tựa ấn bản thứ hai của Jane Eyre, Charlotte Brontë khẳng định “quy ước không phải là luân lí” và “sự nguỵ tín tự cho mình đúng không đồng nghĩa với tôn giáo.”

Quan điểm ấy của bà, chúng ta nên hiểu như thế nào?

Nó chỉ có thể là: Bất kì một học thuyết hoặc chủ thuyết hẹp hòi nào của con người, với hậu ý và thâm ý nâng cao hay đem lại phúc lợi cho một thiểu số ưu đãi, đều không thể thay thế đức tin thuần khiết vào sự cứu chuộc muôn loài của Đấng Christ. Bà kinh tởm tính đạo đức giả, bà khinh bỉ những kẻ nhân danh đức tin hoặc nguỵ tạo chân lí để củng cố địa vị và mưu đồ những việc ích lợi riêng tư. Nhân vật điển hình cho hạng người này trong Jane Eyre là mục sư Brocklehurst. Ông là giám đốc trường Lowood, nơi Jane theo học từ năm lên mười. Ông đem Phúc Âm ra nguỵ luận để răn đe và trừng phạt đám nữ sinh bé bỏng, yếu đuối, thường xuyên đói khát. Tính đạo đức giả của ông biến thành câu chuyện khôi hài hôm vào thăm trường thấy các nữ sinh tóc thắt bím, ông đã bắt các cô bé phải cắt cụt cái bím tóc ngay tại chỗ, vừa lúc bà vợ ông và hai cô tiểu thư bước vào đứng bên cạnh, tóc tai chải gỡ cầu kì, xiêm y lộng lẫy như hoàng hậu, công nương.

Có không ít những kẻ như ông Brocklehurst ngoài đời, bất kể thời gian không gian nào. Thực ra tác giả dựng nhân vật này dựa trên tính cách một nhân vật có thật. Đấy chính là mục sư William Carus Wilson, người sáng lập trường Clergy Daughters’ School ở Cowan Bridge, nơi chị em Brontë theo học thuở nhỏ.

Tương phản với Brocklehurst là cô nữ sinh Helen Burns mười bốn tuổi, người trở thành bạn chí thiết của Jane ngay từ những ngày đầu ở Lowood. Hiếm có người như Helen hiện hữu ngoài đời, một cô gái thông minh xuất chúng, đức độ, lòng vị tha không ai bằng. Chị tin vào tinh thần bác ái tuyệt đối, “bị tát má này đưa má khác” của Cơ đốc giáo bằng cách thương yêu kẻ làm mình khổ. Lòng tin chân thành của chị vào Thượng đế khiến chị bình thản đón nhận cái chết đến với chị. Charlotte vẽ nhân vật Helen quá lí tưởng. Jane thán phục đức tính nhẫn nại và chịu đựng của Helen, cả trí lự thông minh, nhưng cô bé Jane lên mười lúc đó là khá hoang mang, cô bé không rõ những gì Helen tin tưởng có phù hợp tâm hồn mình hay không. Jane hình như không theo đuổi một luận thuyết đặc trưng nào, nàng sùng kính Thượng đế và tin vào Đấng Toàn Năng nhưng giáo điều thì nhất quyết không có chỗ đứng trong tâm hồn nàng.

Dịch Jane Eyre

Khi được phát thanh viên Thanh Hà của đài RFI Tiếng Việt hỏi do cơ duyên nào khiến tôi dịch Jane Eyre thì tôi đã trả lời chị như sau: “Cũng như những người yêu sách vở khác, tôi mê Jane Eyre từ khi còn đi học, nhưng không bao giờ có ý định dịch sang tiếng Việt, cho đến khi nhà xuất bản Nhã Nam ở Hà Nội đề nghị cộng tác dịch tác phẩm bất hủ ấy. Tôi đồng ý ngay và kết quả là cuốn sách ra mắt độc giả vào tháng đầu tháng 9 năm 2016 này. Tôi nghĩ đấy là cơ duyên, và tôi có duyên với Jane Eyre.” Vâng, tôi nghĩ Jane Eyre đã tìm đến với tôi.

Đối với tôi, dịch Jane Eyre vừa dễ vừa khó. Dễ vì đây không phải là một tác phẩm tiểu thuyết đầy màu sắc triết học siêu hình khó đọc. Nhưng khó vì ngôn ngữ văn học của tác phẩm là loại Anh ngữ của dòng văn học Anh quốc thế kỉ XIX. Có những từ ngày nay không mấy ai sử dụng nữa, hoặc nếu còn thì lại hiểu theo một ý nghĩa khác. Điểm khó khăn khác cho người dịch cũng như người đọc là sự phong phú của chữ nghĩa, sự xa lạ của cảnh vật, sinh hoạt, tập quán đối với đa phần độc giả người Việt. Tác phẩm cũng trích dẫn nhiều từ Kinh Thánh và các tác phẩm văn học cổ điển mà nếu không rõ xuất xứ thì khó có thể lĩnh hội điều tác giả muốn biểu đạt.

Dịch Jane Eyre, tôi học được nhiều điều, sự phong phú của cấu trúc ngôn ngữ, sự đa tầng của ý nghĩa văn học và nhân sinh. (Nếu không thế tác phẩm đã không còn sức thu hút sau gần 2 thế kỉ.) Để kết luận tôi xin mượn câu nói của không ai khác hơn Virginia Woolf, một nhà văn nữ lừng lẫy khác của Anh quốc sinh sống sau Charlotte Brontë gần thế kỉ:

“Nhà văn đã cầm lấy tay chúng ta, dắt chúng ta đi theo con đường của bà, bắt chúng ta phải nhìn thấy những gì bà thấy, không bao giờ rời chúng ta nửa bước hay cho phép chúng ta quên mất sự hiện diện của bà. Cuối cùng, chúng ta càng lúc càng đắm chìm trong tài năng, sự mãnh liệt, sự phẫn nộ của Charlotte Brontë.”

Đăng tải tại Articles | Để lại phản hồi

Jane Eyre (RFI phỏng vấn Trịnh Y Thư)

je_book_pic

RFI: Nhân kỷ niệm 200 năm ngày sinh nhà văn Charlotte Brontë (1816-1855), nhà xuất bản Nhã Nam – Hà Nội ra mắt độc giả bản dịch mới của Jane Eyre, tác phẩm nổi tiếng nhất của bà, dưới ngòi bút của dịch giả Trịnh Y Thư.

Trong bản dịch mới, dịch giả Trịnh Y Thư đã vượt qua hàng rào ngôn ngữ của dòng văn học Anh thế kỷ XIX, của những điển tích trong Kinh Thánh, của thế giới xa lạ trong xã hội Anh dưới những năm tháng triều đại Victoria, để đưa Jane Eyre đến gần với độc giả Việt Nam.

Jane Eyre, là câu chuyện của một cô gái mồ côi, nghèo khổ, kém nhan sắc nhưng đã dành quyền tự định đoạt lấy tương lai, bằng nghị lực và  ý chí, bằng sự thông minh và niềm tin nơi Thượng Đế.

Nhân vật chính trong truyện cũng như cũng như tác giả, Charlotte Brontë, bằng học thức đã tự tìm cho mình một chỗ đứng trong xã hội, độc lập về mặt tài chính không để phụ thuộc vào một người đàn ông nào. Đó là tất cả những gì xã hội Anh thế kỷ thứ XIX khó chấp nhận được.

Trong trại mồ côi Lowood, Jane đương đầu với mục sư Brocklehurst. Cô gia sư trẻ Jane Eyre cưỡng lại trái tim kiêu hãnh của Edward Rochester khi ông muốn đưa cô đến một cuộc hôn nhân tội lỗi. Không vì để có một mái nhà hay vị trí trong xã hội mà Jane đã nhận lời cầu hôn của mục sư St John Rivers. Sau muôn vàn thử thách, Jane đã quay về với mối tình chân thật và cao thượng mà cô luôn dành cho chủ nhân tòa lâu đài Thornfield.

Jane Eyre được ấn bản lần đầu năm 1847 dưới bút hiệu Currer Bell. Tác phẩm này gây tiếng vang lớn trong công luận và giới phê bình, bởi ngoài giá trị về văn học, Charlotte Brontë đã không khoan nhượng với xã hội với đầy rẫy những định kiến, mà ở đó thân phận đàn bà chỉ là những cây tầm gửi.

Dưới ngòi bút của Charlotte Brontë, Jane Eyre là một tâm hồn độc lập, là một phụ nữ có cá tính, cô đã phải vượt qua nhiều nghịch cảnh trong hành trình đi tìm hạnh phúc.

Tạp chí Văn Học của RFI hôm nay cùng với dịch giả Trịnh Y Thư nhìn lại Jane Eyre, tác phẩm nổi tiếng nhất trong số 4 cuốn tiểu thuyết của Charlotte Brontë.

RFI: Xin kính chào nhà thơ Trịnh Y Thư. Thưa ông, Jane Eyre là một tác phẩm đã được dịch sang rất nhiều các ngoại ngữ khác nhau. Riêng độc giả Việt Nam đã biết đến cuộc đời với nhiều ngang trái của Jane Eyre qua Kiều Giang, phóng tác của nhà văn Hoảng Hải Thủy tại Sài Gòn vào thập niên 1960, rồi kế tiếp là những bản dịch của Nguyễn Tuyên, Trần Anh Kim . . . vậy cơ duyên nào đã thôi thúc ông hiến tặng cho độc giả Việt một bản dịch mới và bản dịch này có gì khác, so với những bản dịch trước đây?

TYT: Cũng như những người yêu sách vở khác, tôi “mê” Jane Eyre từ khi còn đi học, nhưng không bao giờ có ý định dịch sang tiếng Việt, cho đến khi nhà xuất bản Nhã Nam ở Hà Nội đề nghị cộng tác dịch tác phẩm bất hủ ấy. Tôi đồng ý ngay và kết quả là cuốn sách ra mắt độc giả vào tháng đầu tháng 9 năm 2016 này. Tôi nghĩ đấy là cơ duyên, và tôi có duyên với Jane Eyre.

Còn việc so sánh với các bản dịch trước đây thì thú thật với chị tôi chưa đọc bản dịch tiếng Việt nào cả. Do đó tôi không thể đối sánh để xác định “trị giá gia tăng” của bản dịch này. Hơn nữa theo tôi thì công việc ấy là của độc giả và các nhà phê bình. Tôi chỉ biết cố gắng làm hết sức mình trong phạm vi có thể.

RFI: Nói chung về công việc dịch thuật, đâu là những thách thức của một dịch giả và riêng trong tác phẩm Jane Eyre của Charlotte Brontë thì có những khó khăn nào ông đã phải vượt qua. Xin ông nêu ra một vài đoạn tâm đắc nhất?

TYT: Về dịch thuật nói chung, có hai xu hướng: hoặc trung thành với văn bản nguyên tác; hoặc đặt trọng tâm vào yêu cầu tiếp nhận của ngôn ngữ dịch. Ở thời đại của chúng ta, quan niệm đúng đắn phải là sự kết hợp chặt chẽ cả hai xu hướng trên. Mặc dù những tôn chỉ chung chung kiềm chế người dịch, không cho hắn sa đà, nhưng người dịch không còn là kẻ “tra từ điển chuyên nghiệp” nữa. Có khoảng đất trống cho hắn phô diễn nét tài hoa trong bản dịch.

Riêng đối với tôi, dịch Jane Eyre vừa dễ vừa khó. Dễ vì đây không phải là một tác phẩm tiểu thuyết đầy màu sắc triết học siêu hình khó đọc. Nhưng khó vì ngôn ngữ văn học của tác phẩm là loại Anh ngữ của dòng văn học Anh thế kỉ XIX. Có những từ ngày nay không mấy ai sử dụng nữa, hoặc nếu còn thì lại hiểu theo một ý nghĩa khác. Điểm khó khăn khác cho người dịch cũng như người đọc là sự phong phú của chữ nghĩa, sự xa lạ của cảnh vật, sinh hoạt, tập quán đối với đa phần độc giả người Việt. Tác phẩm cũng trích dẫn nhiều điển tích từ Kinh Thánh hoặc các tác phẩm văn học cổ điển mà nếu không rõ xuất xứ thì khó có thể lĩnh hội điều tác giả muốn biểu đạt. Về điểm này tôi có thêm phần chú thích vào bản dịch để giúp độc giả hiểu thêm, nếu cần.

Dịch Jane Eyre, tôi học được nhiều điều, sự phong phú của cấu trúc ngôn ngữ, sự đa tầng của ý nghĩa văn học và nhân sinh. Nếu không thế tác phẩm đã không còn sức thu hút sau gần 2 thế kỉ. Nhưng có những đoạn tôi thấy thú vị khi dịch, chẳng hạn chương 23 khi ông Rochester lần đầu tỏ tình với Jane. Trữ tình dĩ nhiên, văn đã đẹp lại điểm thêm chút hài hước.

RFI : Jane Eyre đến nay vẫn được xem là một trong những tác phẩm giá trị nhất của nền văn học Anh, vậy ông nhận xét như thế nào về cuốn tiểu thuyết ấy, về tầm nhìn Charlotte Brontë ?

TYT: Tuy có khác nhau về nhận định, nhưng hầu hết các học giả đều đồng ý, Jane Eyre là một cuốn tiểu thuyết chứa đựng cảm xúc mãnh liệt, ngôn ngữ phong phú, tình tiết nhiều kịch tính được biểu hiện bằng một phong cách văn học mạnh mẽ, táo bạo. Ngay cả vào thời điểm cuốn sách ra mắt công chúng lần đầu năm 1847, giới phê bình và người đọc lúc đó đã sớm nhận thức đây là một cuốn sách khác thường, một cuốn tiểu thuyết về phụ nữ của một nhà văn nữ được viết với tất cả nét khai phóng trong ngòi bút mà cho đến thời điểm đó chỉ thấy ở những tác giả phái nam. Tác giả đã can đảm vượt qua đường biên lễ giáo khắc nghiệt của xã hội Anh dưới triều đại nữ hoàng Victoria, trải bày tâm hồn và nỗi đam mê của người phụ nữ, chối bỏ vai trò phụ nữ tùy thuộc vào đàn ông, phê phán tính đạo đức giả của những kẻ mệnh danh đại diện tôn giáo, phê phán cả những tệ đoan của xã hội tư bản sau cuộc cách mạng kĩ nghệ đưa nước Anh lên hàng cường quốc.

Ngày nay dưới luồng sáng của “Nữ quyền luận” trong văn học, người ta đọc Jane Eyre với con mắt mới mẻ hơn và có thể cảm thông trọn vẹn hơn về đường lối tác giả quyết liệt đặt lại vai trò người phụ nữ, cố tấy xóa những định kiến bất công và lỗi thời. Kết quả là sự thông hiểu có sắc thái hơn về bản chất những nghịch lí trong tác phẩm, vốn là một tổng hợp gò ép khó hòa giải giữa sự nổi loạn của tâm hồn đối với xã hội và tinh thần bảo thủ tôn giáo.

Một cách khác để thấu hiểu cấu trúc của Jane Eyre là nhìn nó dưới góc độ câu chuyện của một con người bình thường đi kiếm tìm hạnh phúc, và trong lúc kiếm tìm phải luôn luôn giữ thế cân bằng giữa hai đối lực rất khó hòa giải là luân lí và bản năng. Jane là một cô gái bình thường, bất hạnh, lại không có nhan sắc. Thế nhưng nhờ vào trí óc thông minh cộng thêm ý chí mạnh mẽ, Jane đã vượt qua bao nghịch cảnh để đạt đến hạnh phúc. Phải chăng đấy là cái tinh thần sống và muốn sống như con người, cái human spirit mà muôn đời được ca tụng? Sống như một con người nghĩa là sống như một cá nhân với tất cả giá trị và tình thương cá nhân đó xứng đáng thừa hưởng.

RFI: Cảm ơn nhà thơ Trịnh Y Thư, dịch giả cuốn tiểu thuyết Jane Eyre của nữ sĩ Charlotte Brontë, vừa được NXB Nhã Nam ấn hành tháng 9/2016.

Để nghe toàn bộ cuộc phỏng vấn, xin truy cập vào trang mạng dưới đây:

http://vi.rfi.fr/quoc-te/20161029-jane-eyre-ban-tay-che-dong-bao

 

Đăng tải tại Articles | Để lại phản hồi

Thơ của hai người

DẠ KHÚC LÁ CỎ
Tặng thi sỹ Trịnh Y Thư

kandinsky-improvisation7

1.
Lá cỏ. Sầu ngu ngơ. Biếc màu.
Tầng không. Khuya. Ướt nắng. Tìm nhau.
Âm trôi. Sắc níu. Đàn. Xa thẳm.
Dạ khúc. Ghìm. Buông. Đắm. Cổ lâu.

2.
Lá cỏ. Hát ru. Ngàn thâu. Nhịp.
Phím trầm. Vạn kiếp. Phách. Chìm theo.
Đời. Bơ vơ lắm. Nghe. Không hết.
Lời. Của xưa sau. Ý. Lửng. Treo!

3.
Lá cỏ. Mắt sương. Chớp. Long lanh.
Hồn nhiên. Đau. Vuốt nhọn. Vô hình.
Bên trong. Tơ. Tóc. Không gian. Ứa.
Những vết hằn. Băng. Tuyết. Hiển linh.

4.
Lá cỏ. Phất phơ. Chờ. Đất hẹn.
Trời cao. Áo lụa. Đẫm. Hương cau.
Khắc lên. Năm tháng. Câu tâm nguyện.
Bén gót. Âm vang. Níu. Sắc màu.

5.
Lá cỏ. Sát vai. Hồn đường thu.
Đồng thanh. Tương ứng. Dốc sương mù.
Âm đưa. Cuối bãi. Đầu non. Dậy.
Dạ khúc. Ngời. Xanh. Bay. Lãng du.

– Nguyễn Lương Vỵ (6.2016)

***

cứ nghĩ đến lúc thu về,
(gửi anh T.Y.Thư)

imagesCAKDQENI

là tay bấm phạm phím rào
đương cơn bóng nhập đã ngao ngán vầy!

dầm chui nhéo thịt cù nhây
bước canh hụt một thúc rầy rà lên
hồn vôi khóe sữa động rền

(mặt nhao nhác kém an nhiên mỵ miều!)

ăn đòng cảnh giới vi veo
nấu nồi sương hóa kiếp siêu nắng già

bạch đường cây cởi áo hoa
eo thon vú cộm rõ ra nhân hình

nom trang trọng cái tử quỳnh
môi loe lọng tuốt ló thiên địa rồi
và nhanh chén lót lòng vơi

vấu màu vỗ bột thót ngồi ngai kia

phất lêu lổng lọn bông rìa
hít hà như thể lưỡi khìa chất cay
lưng trần dụ thổi con may

xù lông trả xác tục bày bữa qua

hương đùm gói cạy ngân nga
cửa bên đóng vẫn biết ca điệu vào
đuôi tiềm tóc rượt chiêm bao

trán sôn sốt dặm mây rào khổ thân

mỏ chinh chích nóc chim gần
sạn hiu hiu mới liệng còng khúc trưa

gậy sần đẽo gọt đu đưa
lườn ngang kẻ dọc kiệu
chờ
rước thu

– Nguyễn-hòa-Trước (tháng 9, 2016)

Được hai người bạn thơ mỗi người tặng mình một bài thơ thật hay, hỏi ai mà không sung sướng cơ chứ! Hai món quà tinh thần trân quý, hai thi pháp, hai khí hậu thơ tương phản, nhưng cả hai đều có chung một chủ ý ca ngợi cái đẹp không-thể-định-nghĩa của thơ ca.

Với Nguyễn Lương Vỵ, phong vị thơ như muốn lui về cổ lục nghìn năm điêu thạch, nhưng thật ra đó vẫn là một Nguyễn Lương Vỵ với tất cả những băn khoăn bộn bề khôn dứt về cái hiện tồn trước mặt và cái miên trường sau lưng.

Còn Nguyễn-hòa-Trước thì đẩy chữ nghĩa thơ ca đến một biên vực mới. Tinh tuyền và lạ lùng. Không thể biết ý nghĩa và cảm xúc đi về đâu. Chữ nghĩa cứ chiêng chao như bay nhảy trên ghềnh thác. Có thể tung tỏa lên trời xanh mà cũng có thể bị cuốn theo dòng nước lũ.

Đừng chờ đợi một tín hiệu giải mã bản ngã, bản nguyên, bản thể hay bất cứ điều gì khác mà cứ xem đó là cuộc chơi miên viễn. Mua vui.

Xin cảm ơn hai nhà thơ.

– Trịnh Y Thư

Đăng tải tại Poetry | Để lại phản hồi