Jane Eyre (RFI phỏng vấn Trịnh Y Thư)

je_book_pic

RFI: Nhân kỷ niệm 200 năm ngày sinh nhà văn Charlotte Brontë (1816-1855), nhà xuất bản Nhã Nam – Hà Nội ra mắt độc giả bản dịch mới của Jane Eyre, tác phẩm nổi tiếng nhất của bà, dưới ngòi bút của dịch giả Trịnh Y Thư.

Trong bản dịch mới, dịch giả Trịnh Y Thư đã vượt qua hàng rào ngôn ngữ của dòng văn học Anh thế kỷ XIX, của những điển tích trong Kinh Thánh, của thế giới xa lạ trong xã hội Anh dưới những năm tháng triều đại Victoria, để đưa Jane Eyre đến gần với độc giả Việt Nam.

Jane Eyre, là câu chuyện của một cô gái mồ côi, nghèo khổ, kém nhan sắc nhưng đã dành quyền tự định đoạt lấy tương lai, bằng nghị lực và  ý chí, bằng sự thông minh và niềm tin nơi Thượng Đế.

Nhân vật chính trong truyện cũng như cũng như tác giả, Charlotte Brontë, bằng học thức đã tự tìm cho mình một chỗ đứng trong xã hội, độc lập về mặt tài chính không để phụ thuộc vào một người đàn ông nào. Đó là tất cả những gì xã hội Anh thế kỷ thứ XIX khó chấp nhận được.

Trong trại mồ côi Lowood, Jane đương đầu với mục sư Brocklehurst. Cô gia sư trẻ Jane Eyre cưỡng lại trái tim kiêu hãnh của Edward Rochester khi ông muốn đưa cô đến một cuộc hôn nhân tội lỗi. Không vì để có một mái nhà hay vị trí trong xã hội mà Jane đã nhận lời cầu hôn của mục sư St John Rivers. Sau muôn vàn thử thách, Jane đã quay về với mối tình chân thật và cao thượng mà cô luôn dành cho chủ nhân tòa lâu đài Thornfield.

Jane Eyre được ấn bản lần đầu năm 1847 dưới bút hiệu Currer Bell. Tác phẩm này gây tiếng vang lớn trong công luận và giới phê bình, bởi ngoài giá trị về văn học, Charlotte Brontë đã không khoan nhượng với xã hội với đầy rẫy những định kiến, mà ở đó thân phận đàn bà chỉ là những cây tầm gửi.

Dưới ngòi bút của Charlotte Brontë, Jane Eyre là một tâm hồn độc lập, là một phụ nữ có cá tính, cô đã phải vượt qua nhiều nghịch cảnh trong hành trình đi tìm hạnh phúc.

Tạp chí Văn Học của RFI hôm nay cùng với dịch giả Trịnh Y Thư nhìn lại Jane Eyre, tác phẩm nổi tiếng nhất trong số 4 cuốn tiểu thuyết của Charlotte Brontë.

RFI: Xin kính chào nhà thơ Trịnh Y Thư. Thưa ông, Jane Eyre là một tác phẩm đã được dịch sang rất nhiều các ngoại ngữ khác nhau. Riêng độc giả Việt Nam đã biết đến cuộc đời với nhiều ngang trái của Jane Eyre qua Kiều Giang, phóng tác của nhà văn Hoảng Hải Thủy tại Sài Gòn vào thập niên 1960, rồi kế tiếp là những bản dịch của Nguyễn Tuyên, Trần Anh Kim . . . vậy cơ duyên nào đã thôi thúc ông hiến tặng cho độc giả Việt một bản dịch mới và bản dịch này có gì khác, so với những bản dịch trước đây?

TYT: Cũng như những người yêu sách vở khác, tôi “mê” Jane Eyre từ khi còn đi học, nhưng không bao giờ có ý định dịch sang tiếng Việt, cho đến khi nhà xuất bản Nhã Nam ở Hà Nội đề nghị cộng tác dịch tác phẩm bất hủ ấy. Tôi đồng ý ngay và kết quả là cuốn sách ra mắt độc giả vào tháng đầu tháng 9 năm 2016 này. Tôi nghĩ đấy là cơ duyên, và tôi có duyên với Jane Eyre.

Còn việc so sánh với các bản dịch trước đây thì thú thật với chị tôi chưa đọc bản dịch tiếng Việt nào cả. Do đó tôi không thể đối sánh để xác định “trị giá gia tăng” của bản dịch này. Hơn nữa theo tôi thì công việc ấy là của độc giả và các nhà phê bình. Tôi chỉ biết cố gắng làm hết sức mình trong phạm vi có thể.

RFI: Nói chung về công việc dịch thuật, đâu là những thách thức của một dịch giả và riêng trong tác phẩm Jane Eyre của Charlotte Brontë thì có những khó khăn nào ông đã phải vượt qua. Xin ông nêu ra một vài đoạn tâm đắc nhất?

TYT: Về dịch thuật nói chung, có hai xu hướng: hoặc trung thành với văn bản nguyên tác; hoặc đặt trọng tâm vào yêu cầu tiếp nhận của ngôn ngữ dịch. Ở thời đại của chúng ta, quan niệm đúng đắn phải là sự kết hợp chặt chẽ cả hai xu hướng trên. Mặc dù những tôn chỉ chung chung kiềm chế người dịch, không cho hắn sa đà, nhưng người dịch không còn là kẻ “tra từ điển chuyên nghiệp” nữa. Có khoảng đất trống cho hắn phô diễn nét tài hoa trong bản dịch.

Riêng đối với tôi, dịch Jane Eyre vừa dễ vừa khó. Dễ vì đây không phải là một tác phẩm tiểu thuyết đầy màu sắc triết học siêu hình khó đọc. Nhưng khó vì ngôn ngữ văn học của tác phẩm là loại Anh ngữ của dòng văn học Anh thế kỉ XIX. Có những từ ngày nay không mấy ai sử dụng nữa, hoặc nếu còn thì lại hiểu theo một ý nghĩa khác. Điểm khó khăn khác cho người dịch cũng như người đọc là sự phong phú của chữ nghĩa, sự xa lạ của cảnh vật, sinh hoạt, tập quán đối với đa phần độc giả người Việt. Tác phẩm cũng trích dẫn nhiều điển tích từ Kinh Thánh hoặc các tác phẩm văn học cổ điển mà nếu không rõ xuất xứ thì khó có thể lĩnh hội điều tác giả muốn biểu đạt. Về điểm này tôi có thêm phần chú thích vào bản dịch để giúp độc giả hiểu thêm, nếu cần.

Dịch Jane Eyre, tôi học được nhiều điều, sự phong phú của cấu trúc ngôn ngữ, sự đa tầng của ý nghĩa văn học và nhân sinh. Nếu không thế tác phẩm đã không còn sức thu hút sau gần 2 thế kỉ. Nhưng có những đoạn tôi thấy thú vị khi dịch, chẳng hạn chương 23 khi ông Rochester lần đầu tỏ tình với Jane. Trữ tình dĩ nhiên, văn đã đẹp lại điểm thêm chút hài hước.

RFI : Jane Eyre đến nay vẫn được xem là một trong những tác phẩm giá trị nhất của nền văn học Anh, vậy ông nhận xét như thế nào về cuốn tiểu thuyết ấy, về tầm nhìn Charlotte Brontë ?

TYT: Tuy có khác nhau về nhận định, nhưng hầu hết các học giả đều đồng ý, Jane Eyre là một cuốn tiểu thuyết chứa đựng cảm xúc mãnh liệt, ngôn ngữ phong phú, tình tiết nhiều kịch tính được biểu hiện bằng một phong cách văn học mạnh mẽ, táo bạo. Ngay cả vào thời điểm cuốn sách ra mắt công chúng lần đầu năm 1847, giới phê bình và người đọc lúc đó đã sớm nhận thức đây là một cuốn sách khác thường, một cuốn tiểu thuyết về phụ nữ của một nhà văn nữ được viết với tất cả nét khai phóng trong ngòi bút mà cho đến thời điểm đó chỉ thấy ở những tác giả phái nam. Tác giả đã can đảm vượt qua đường biên lễ giáo khắc nghiệt của xã hội Anh dưới triều đại nữ hoàng Victoria, trải bày tâm hồn và nỗi đam mê của người phụ nữ, chối bỏ vai trò phụ nữ tùy thuộc vào đàn ông, phê phán tính đạo đức giả của những kẻ mệnh danh đại diện tôn giáo, phê phán cả những tệ đoan của xã hội tư bản sau cuộc cách mạng kĩ nghệ đưa nước Anh lên hàng cường quốc.

Ngày nay dưới luồng sáng của “Nữ quyền luận” trong văn học, người ta đọc Jane Eyre với con mắt mới mẻ hơn và có thể cảm thông trọn vẹn hơn về đường lối tác giả quyết liệt đặt lại vai trò người phụ nữ, cố tấy xóa những định kiến bất công và lỗi thời. Kết quả là sự thông hiểu có sắc thái hơn về bản chất những nghịch lí trong tác phẩm, vốn là một tổng hợp gò ép khó hòa giải giữa sự nổi loạn của tâm hồn đối với xã hội và tinh thần bảo thủ tôn giáo.

Một cách khác để thấu hiểu cấu trúc của Jane Eyre là nhìn nó dưới góc độ câu chuyện của một con người bình thường đi kiếm tìm hạnh phúc, và trong lúc kiếm tìm phải luôn luôn giữ thế cân bằng giữa hai đối lực rất khó hòa giải là luân lí và bản năng. Jane là một cô gái bình thường, bất hạnh, lại không có nhan sắc. Thế nhưng nhờ vào trí óc thông minh cộng thêm ý chí mạnh mẽ, Jane đã vượt qua bao nghịch cảnh để đạt đến hạnh phúc. Phải chăng đấy là cái tinh thần sống và muốn sống như con người, cái human spirit mà muôn đời được ca tụng? Sống như một con người nghĩa là sống như một cá nhân với tất cả giá trị và tình thương cá nhân đó xứng đáng thừa hưởng.

RFI: Cảm ơn nhà thơ Trịnh Y Thư, dịch giả cuốn tiểu thuyết Jane Eyre của nữ sĩ Charlotte Brontë, vừa được NXB Nhã Nam ấn hành tháng 9/2016.

Để nghe toàn bộ cuộc phỏng vấn, xin truy cập vào trang mạng dưới đây:

http://vi.rfi.fr/quoc-te/20161029-jane-eyre-ban-tay-che-dong-bao

 

Posted in Articles | Để lại bình luận

Thơ của hai người

DẠ KHÚC LÁ CỎ
Tặng thi sỹ Trịnh Y Thư

kandinsky-improvisation7

1.
Lá cỏ. Sầu ngu ngơ. Biếc màu.
Tầng không. Khuya. Ướt nắng. Tìm nhau.
Âm trôi. Sắc níu. Đàn. Xa thẳm.
Dạ khúc. Ghìm. Buông. Đắm. Cổ lâu.

2.
Lá cỏ. Hát ru. Ngàn thâu. Nhịp.
Phím trầm. Vạn kiếp. Phách. Chìm theo.
Đời. Bơ vơ lắm. Nghe. Không hết.
Lời. Của xưa sau. Ý. Lửng. Treo!

3.
Lá cỏ. Mắt sương. Chớp. Long lanh.
Hồn nhiên. Đau. Vuốt nhọn. Vô hình.
Bên trong. Tơ. Tóc. Không gian. Ứa.
Những vết hằn. Băng. Tuyết. Hiển linh.

4.
Lá cỏ. Phất phơ. Chờ. Đất hẹn.
Trời cao. Áo lụa. Đẫm. Hương cau.
Khắc lên. Năm tháng. Câu tâm nguyện.
Bén gót. Âm vang. Níu. Sắc màu.

5.
Lá cỏ. Sát vai. Hồn đường thu.
Đồng thanh. Tương ứng. Dốc sương mù.
Âm đưa. Cuối bãi. Đầu non. Dậy.
Dạ khúc. Ngời. Xanh. Bay. Lãng du.

– Nguyễn Lương Vỵ (6.2016)

***

cứ nghĩ đến lúc thu về,
(gửi anh T.Y.Thư)

imagesCAKDQENI

là tay bấm phạm phím rào
đương cơn bóng nhập đã ngao ngán vầy!

dầm chui nhéo thịt cù nhây
bước canh hụt một thúc rầy rà lên
hồn vôi khóe sữa động rền

(mặt nhao nhác kém an nhiên mỵ miều!)

ăn đòng cảnh giới vi veo
nấu nồi sương hóa kiếp siêu nắng già

bạch đường cây cởi áo hoa
eo thon vú cộm rõ ra nhân hình

nom trang trọng cái tử quỳnh
môi loe lọng tuốt ló thiên địa rồi
và nhanh chén lót lòng vơi

vấu màu vỗ bột thót ngồi ngai kia

phất lêu lổng lọn bông rìa
hít hà như thể lưỡi khìa chất cay
lưng trần dụ thổi con may

xù lông trả xác tục bày bữa qua

hương đùm gói cạy ngân nga
cửa bên đóng vẫn biết ca điệu vào
đuôi tiềm tóc rượt chiêm bao

trán sôn sốt dặm mây rào khổ thân

mỏ chinh chích nóc chim gần
sạn hiu hiu mới liệng còng khúc trưa

gậy sần đẽo gọt đu đưa
lườn ngang kẻ dọc kiệu
chờ
rước thu

– Nguyễn-hòa-Trước (tháng 9, 2016)

Được hai người bạn thơ mỗi người tặng mình một bài thơ thật hay, hỏi ai mà không sung sướng cơ chứ! Hai món quà tinh thần trân quý, hai thi pháp, hai khí hậu thơ tương phản, nhưng cả hai đều có chung một chủ ý ca ngợi cái đẹp không-thể-định-nghĩa của thơ ca.

Với Nguyễn Lương Vỵ, phong vị thơ như muốn lui về cổ lục nghìn năm điêu thạch, nhưng thật ra đó vẫn là một Nguyễn Lương Vỵ với tất cả những băn khoăn bộn bề khôn dứt về cái hiện tồn trước mặt và cái miên trường sau lưng.

Còn Nguyễn-hòa-Trước thì đẩy chữ nghĩa thơ ca đến một biên vực mới. Tinh tuyền và lạ lùng. Không thể biết ý nghĩa và cảm xúc đi về đâu. Chữ nghĩa cứ chiêng chao như bay nhảy trên ghềnh thác. Có thể tung tỏa lên trời xanh mà cũng có thể bị cuốn theo dòng nước lũ.

Đừng chờ đợi một tín hiệu giải mã bản ngã, bản nguyên, bản thể hay bất cứ điều gì khác mà cứ xem đó là cuộc chơi miên viễn. Mua vui.

Xin cảm ơn hai nhà thơ.

– Trịnh Y Thư

Posted in Poetry | Để lại bình luận

Lắng nghe hài cỏ . . .

Nguyễn Thị Khánh Minh cảm nhận thơ Trịnh Y Thư.

Tranh Nguyên Khai

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Tranh Nguyên Khai

*

Nhờ duyên layout sách mà tôi được biết nhà thơ, dịch giả nổi tiếng Trịnh Y Thư. Ấn tượng đầu tiên gieo vào ý nghĩ tôi là, cái ông nhà thơ này khó quá. Tôi không nhìn qua phong thái nhà thơ, cũng không dịch giả, mà qua một trí thức, có học vị, nghề nghiệp ổn định, thì đó là một người mà tầm hiểu biết rất thuyết phục người đối diện, nghiêm nghị, ít nói, và cầu toàn – ít ra là trong việc layout mà tôi nhận thấy thế. Tôi thực sự căng thẳng. Hôm nay, xin thú thật với nhà thơ rằng, hồi nhận layout sách, tôi chỉ mới vừa “tốt nghiệp” sau mấy giờ học qua điện thoại do một anh bạn hướng dẫn. Và thế là thực tập ngay bằng Chỉ Là Đồ Chơi của Trịnh Y Thư. (Có phải để ở đây lời xin lỗi không? Nhưng Chỉ Là Đồ Chơi cũng đạt yêu cầu đấy chứ, có điều ở đó tôi có chút buồn riêng. Và cũng xin nói thêm, Chỉ Là Đồ Chơi là cuốn thứ hai trong nghề dàn trang của tôi.)

Như vậy, thì phút ban đầu biết nhau không qua văn chương mà là công việc. “. . . Chị có thể cho những dòng nhạc này ngay không?” “. . . Chỗ này chị thụt chữ vào theo standard là được.”  “. . . Đoạn này cách như cuốn mẫu tôi đưa cho chị . . .” (Ông ơi, tôi nhủ thầm, theo standard là cái quái gì thế, biết cho, anh bạn tôi dạy theo kiểu mì ăn liền!) Thế đó. Và khi bản xem trước trả về cho tôi, thì đầy những notes phải sửa chữa! Thưa nhà văn, chẳng phải tay nghề tôi tệ, mà chỉ vì những con chữ trong tập văn Chỉ Là Đồ Chơi cuốn hút, tôi quên mất mình đang làm việc, tôi đọc, đọc, rồi đâm lơ là phần chăm sóc kỹ thuật. Thế thì cũng đáng châm chước cho tôi, phải không?

Sau đó, tôi đã viết vào tập tản văn của mình:

. . . Khi đánh máy tập tản văn này, 2013, tôi được đọc Trịnh Y Thư trong tạp bút Chỉ Là Đồ Chơi, nói là: “. . . chúng tôi – vài người bạn văn còn sót lại trong cái thị trường chữ nghĩa ở hải ngoại – cũng thích ra ngồi quán lắm . . . đến ngồi hàng giờ nói chuyện vãn . . .” Bạn ơi, chuyện vãn, không phải “không đâu” đâu mà là chuyện đất trời với những trăn trở nhân sinh. Và rồi. Bạn tôi, anh tôi, em tôi, và tôi, vẫn miệt mài với chữ, chuyện mà Trịnh Y Thư lại tự hỏi “chẳng thể nào hiểu nổi tại sao chúng tôi vẫn lọ mọ, mày mò viết lách trong hoàn cảnh sống nơi xứ người . . . như con dã tràng xe cát . . .” Thưa nhà văn Trịnh Y Thư, những hạt chữ lãng mạn rù quyến những con dã tràng mơ mộng . . . (Nguyễn Thị Khánh Minh, Bóng Bay Gió Ơi, tr. 31).

Lúc buộc thêm được chút tình bằng hữu, tôi đã viết,

. . . Sáng đó nói chuyện được nhiều với nhà văn, nhà thơ Trịnh Y Thư mới thấy được vẻ trầm tĩnh và những nhận xét sắc nét của anh về cuộc sống cũng như văn chương nghệ thuật, hiểu thêm hơn những điều anh viết trong Chỉ Là Đồ Chơi (tập sách là một đồ chơi nghiêm túc phải được để một chỗ trang trọng trong tủ sách, hoặc, một nơi có thể dễ lấy bất cứ lúc nào, để đọc) . . . Cũng có chút gặp gỡ sở thích trong bài Ngồi Quán, ở đấy. Và chuyện chữ nghĩa thì, không phải là chuyện dã tràng như Trịnh Y Thư nói đâu, nhà thơ ơi, khi nắng lên gần đỉnh trời vẫn tưởng còn là buổi sáng cà phê . . . mà, hình như anh còn nợ tôi một khúc tây ban cầm… (Nguyễn Thị Khánh Minh, Bóng Bay Gió Ơi, tr. 243).

Một phác thảo như vậy, để người đọc hình dung được Trịnh Y Thư qua cảm nhận của tôi. Theo thời gian, tôi vẫn đọc thơ anh, đặc biệt ngưỡng phục tài dịch thuật của anh, mà gần đây nhất là tác phẩm Jane Eyre của Charlotte Brontë (xuất bản 2016).

Muốn biết rõ về một phong cách thơ, phải đọc toàn bộ thể loại mà nhà thơ ấy sử dụng, để phân tích một cách chuyên môn, như vậy mới có được thẩm định tổng quát về họ. Đó là việc làm của những nhà phê bình văn học. Ở đây, tôi chỉ giản lược theo cảm xúc chủ quan của mình từ những bài thơ của Trịnh Y Thư mang lại. Như thể, trên con đường nghìn dặm trái tim, chợt âm vang nhịp đồng điệu, và những bước tôi lần theo chỉ mong là không bị sẩy nhịp hòa âm.

Giờ, thử theo bước chân chàng thơ. Từ hình ảnh quyến dụ tôi:

tiếng gót giày va khẽ
như nhịp điệu một khúc nhạc thanh xuân…
(Những Phiến Lá Từ Tâm)

Sao khiến tôi liên tưởng bước nhảy của The Beatles. Họ có gương mặt đẹp thơ ngây với tóc dài, lịch sự với bộ vest đen, sơ mi trắng, cà vạt đen, giày mũi nhọn soải những bước trẻ trung khiến đường phố như cũng dậy nét thanh xuân, khát sống, mà toát vẻ tài hoa phong nhã. Với tất cả nét sinh động ấy, tiếng gót giày của Trịnh Y Thư lại thổn thức nốt lặng u ẩn, bởi cái rộn ràng của gót giầy như đang kìm lại để chỉ va khẽ thôi. Hình ảnh và âm thanh đầy hấp lực thơ, tiếng gót giày va khẽ rung cảm lạ kỳ, gây nên cảm xúc hứng khởi lẫn u hoài nơi tôi. Chỉ muốn đứng lên xỏ đôi giầy cao gót, nghe thanh xuân khao khát nhún nhẩy, rồi sững lại thời gian, bật khóc. Có lẽ tâm trạng nhà thơ cũng thế, nên lây qua ánh thủy tinh trong veo của chú sóc để thấy phản chiếu lên nỗi nhớ? Như là phải tương phản để trắng thì tinh hơn, và đen thì huyền hơn. Chả phải là trong triết học có hình ảnh con mèo đen đi qua bức tường trắng? Có ai nghĩ tại sao nhìn vào mắt trong veo veo của sóc lại nhớ ra một linh hồn vừa chia tay, lại gắn với cái giẫy chết của con sâu? Bởi cái trong veo kia đang là một thực tại sống động trước mắt, và những tôi vừa ở đây như là lời đáp lại cái thăm dò kia, vừa bình thản vừa đa cảm, không biết sao lại gợi tôi hình ảnh, chàng, áo xanh thư sinh nho nhã hài xanh, buông sách xuống, tôi vừa dụi mắt giấc mơ nào . . ., và người ra đi thực rồi sao . . .

một chú sóc vụt hiện ra
giương đôi mắt trong veo thăm dò
khiến tôi chợt nhớ
tôi vừa chia tay một linh hồn
tôi vừa gieo vào một đôi mắt
tôi vừa ôm ấp một mái đầu
tôi vừa giẵm nát một con sâu
tôi vừa dụi mắt giấc mơ nào…
(Những Phiến Lá Từ Tâm 1)

Hẳn là nỗi đau chia xa sẽ đằm lại với màu xanh của trời, tao tác của chim và kìa, chiếc cầu bạc, hình ảnh làm tôi chú ý. Nó tượng trưng cho hẹn hò, cho chia tay. (Không biết có ai nói như vậy hay tôi nghĩ ra như thế?) Tôi không nghĩ có một chiếc cầu bạc thật-sự ở đó, bởi nó lung linh . . . Và biết chăng, vẫn chưa giữ hẹn được một lần, nên còn mong chờ hạnh ngộ, nên lại càng nghe tiếng thúc bách của định mệnh. Hạn tôi về con đường dốc mỏi . . .

Người ơi, niềm bứt rứt lỗi hẹn thì rồi như bụi phấn hoa li ti quay tít vào duyên nợ chập chùng của vòng luân hồi-nghiệp chướng. Tôi thấy được dưới dòng thơ rất Tây này lấp lánh những thao thức đẫm chất Đông phương, đầy ẩn dụ như thế, theo tôi, đây là nét lôi cuốn của thơ Trịnh Y Thư, trong tân kỳ lại đọng phảng phất châu báu di sản.

Tung toả bụi phấn hoa tình cờ
vòng luân chướng bất diệt – điều kì diệu
đơn sơ như số phận đìu hiu.

Ngày nắng xoá dồng dềnh bờ bụi
tôi ngước nhìn trời xanh – những cánh chim tao tác
chiếc cầu bạc lung linh
góc trời ẩn nhẫn nỗi thương nhớ lạnh câm

Hạn tôi về con đường dốc mỏi
vẫn chưa giữ hẹn được một lần
sông dòng một chảy xuôi
bỏ tôi mỗi lúc mỗi xa thêm lờ lững

Tiếng gõ của định mệnh thực ghê gớm
mỗi lúc mỗi nhanh thêm
tôi nào biết sẽ về đâu khi
mặt đất thâm đen
mặt trời thâm đen
mặt người thâm đen
mặt định mệnh thâm đen
giao ước biển lận trong trò cười nhạo nhiếu

Phiên bản của ngày mai . . .
(Những Phiến Lá Từ Tâm 2)

Hạt nước lăn tròn dự báo
những tai ương không thể tránh
(Mưa Đêm Tháng Chạp)

Hạt nước lăn tròn những nhiễu nhương
Chiêng chao biên vực cửa vô thường
(Chùm Thơ Lập Xuân 7)

Bàng bạc vị Phật pháp. Tôi dùng chữ vị, bởi chàng chỉ vừa chợt nghe ảo diệu qua cái dụi mắt giấc mơ. Châu báu là đây. Tình cờ hay đã bao lần chiêm nghiệm, những thao thức kiếp người luôn được thể hiện bằng một vòng tròn? . . . Hạt nước lăn tròn dự báo . . . Hạt nước lăn tròn những nhiễu nhương . . . Bụi phấn hoa. Vòng luân chướng. Tròn mơ ảo hợp tan bong bóng nước. Hạt nước mắt tròn một vòng xoắn xuýt sướng khổ . . . Vòng tròn ẩn dụ của vô thủy vô chung. Không khởi đầu, chẳng kết thúc. Vòng tròn của nguyên lý chân không diệu hữu, như Sư Tuyên Hóa đã giảng, vòng tròn ấy mở ra, thì cùng tận hư không. Khi thu lại có vi trần. Hạt bụi này hay bụi phấn hoa của nhà thơ lại là một hiện hữu nhiệm mầu. Nhà thơ chúng ta đã dự cảm gì trong cái lăn tròn mãi hoài kia? Chợt nghe tiền kiếp chật dày thời gian . . . Luân hồi miên man trong vòng sinh tử, và cũng mộng ảo đến thế vòng thời gian, chẳng còn đâu là qua đi rồi tới nữa. Ta chỉ là bụi phấn hoa trong hiện hữu tình cờ. Miết miết cơn mộng dài trong khoảnh khắc phù du. Có phải chàng đã nghe từ tận cùng sâu thẳm nhịp nhàng chuông tim, nhắc nhớ hơi thở đang vào ra mà thấy kiếp tro phai hư mộng?

thời gian như vạt bụi
phủ lấp niềm vui thanh xuân
phải bước đến tận cùng bờ vực
tôi mới nhận ra trọn kiếp tro phai
chẳng còn gì ngoài một giấc mơ
(Thiên Thu Một Giấc Mơ Trên Lá Cỏ)

tôi trút linh hồn vào đôi mắt ấy
Hơi thở điêu linh
giữa khoảnh khắc phù du
vẫn đủ cho tôi nhận ra
dấu vết vật vã giữa
hạnh phúc và đau thương…
(Mưa Đêm Tháng Chạp)

Dấu vết nào ăn thua với mưa đêm tháng chạp! Đường đi nào, lắng nghe nào cũng phải trải nghiệm gập ghềnh. Thôi nhé, nhà thơ, xin cứ thật trọn vẹn với phút trữ tình diễm lệ . . . tôi trút linh hồn vào đôi mắt ấy . . . Đôi mắt tròn. Vâng, tròn. Thế nên, tôi nào biết sẽ về đâu . . . Cứ thế, đi theo thời gian, không phải lãng tử thấy đâu trời đất cũng nhà, mà như người khách vừa bước xuống tàu đến một nơi rất lạ – trần gian? Đến, và trong kiếp phù mộng ấy người luôn bị ám ảnh bởi sự ra đi, nếu cảm rằng đây là chốn lạ, ắt nơi kia là một mong mỏi, và lúc này đang là những thao thức.

Lẽo đẽo thời gian như khúc kinh chiều thoi thóp
tất cả đi về dửng dưng – chẳng có gì khác lạ
(Những Phiến Lá Từ Tâm 1)

tôi nghe ngóng mãi từ thiên thu
những ước hẹn thưa dần ngày mai bầu trời vẫn thế
(Những Phiến Lá Từ Tâm 1)

Tôi chờ đợi gì khi chuyến tàu đã ra đi
trở lại bến bờ nào khi chẳng đâu là chỗ ẩn
(Những Phiến Lá Từ Tâm 4)

Thành phố lạ, biển đen không đâu là nhà
tên tuổi lãng quên như râu tóc
bản nháp cuộc đời viết mãi chưa xong

Đêm trổ mưa, đi về như cơn mộng
rượu đỏ máu bầm cũng thế thôi
ngan ngát hoàng lan chờ bên khung cửa
(Tháng Ba, Hãy Trôi Đi)

Tiếng chuông gọi người-mộng mơ hồ giữa rượu đỏ máu bầm thức dậy là hương hoàng lan, bên khung cửa. Cửa nhà quen, chàng về, hay khung cửa hẹn, chàng đến?

Một điểm mốc, tạm là điểm đi nhé, giữa khoảnh khắc phù du hạnh phúc và đau khổ của chàng.

tôi nào biết sẽ về đâu khi
mặt đất thâm đen
mặt trời thâm đen
mặt người thâm đen
mặt định mệnh thâm đen
(Những Phiến Lá Từ Tâm 2)

Tôi run sợ trước định mệnh
khốc liệt đang bủa vây
như màn đêm trước mắt tôi
phủ lấp nhân gian
quả quyết một thời bão nổi
(Mưa Đêm Tháng Chạp)

Tôi vẫn đi, về
những đêm đất úng mưa
để thấy nỗi cô độc
co ro trên vòm cây lạnh . . .

Cánh cửa tháng chạp mở toang
bên trong mộ phần sắp sẵn
cứ thế mỗi ngày tôi thu xếp đời tôi
như thể ngày mai ra đi không trở lại . . .
(Nhìn Lại Trần Gian)

Nỗi chờ đợi của hoàng lan bên khung cửa khiến chàng nhận ra những trăn trở hiện sinh nôn nả sầu buồn bỗng chỉ là ngôn từ sao thừa thãi lạ . . ., để quay vào trong cõi vắng vẻ riêng mình nghe ra âm vang lặng im của chiếc lá, để lòng nhú theo mầm xanh vời vợi. A! Điểm mốc ấy là tâm. Điểm sáng ánh biếc xuân sơn trong vòng tròn hạt sương đầu ngọn cỏ.

Chưa hết những điều muốn nói
nhưng ngôn từ sao thừa thãi lạ
sự lặng im của lá canh cánh một âm vang.

Mùa lá nhú mầm xanh vời vợi
lập loè đầu ngọn cỏ ánh biếc xuân sơn
(Những Phiến Lá Từ Tâm 1)

Có lẽ, giờ đã đến lúc đôi giầy nện gót xôn xao được xếp vào ngăn tủ, nằm im đó như chủ nhân của nó cứ thế mỗi ngày tôi thu xếp đời tôi / như thể ngày mai ra đi không trở lại… (Nơi Chốn). Tôi đã nói mà anh không để ý sao, Trịnh Y Thư, đã quay về điểm biếc xuân sơn trên đầu ngọn cỏ rồi thì sao nói chuyện trở lại, hay ra đi? Tôi chợt nghĩ phút người dừng lại để nghe được sự lặng im của lá, như thể một hốt nhiên quay về để thấy bờ kia chính là tâm lặng trong. Chàng đang lắng nghe trong vô thanh lá rơi bước thầm lặng của hài cỏ lần theo . . .

Nhưng gượm một chút, tôi còn muốn nhắc, những hồng huyết cầu Đông phương đang làm nhịp thơ anh đập dịu dàng, đánh động hạt-lệ-vốn-dĩ của tôi. Cảm xúc của đêm trăng, biển, cát trắng, mái nhà nâu, hàng dừa. Ôi quê hương tôi như đang dặt dìu hiện lên, gõ vào tôi những nhịp lai sinh, vừa nằm xuống đã thấy biển xưa . . . thật là đẹp muốn chết, sát nghĩa luôn ở đây.

. . . Lạ thổ ngơi lạ cả tình
bên kia núi còn nghe đồng vọng
u uất đêm trăng

Chờ ngày hóa thân
cõi lạ vừa nằm xuống đã thấy biển xưa
cát trắng – mái nhà nâu hàng dừa . . .
(Tháng Ba, Hãy Trôi Đi)

. . . cho tôi sống với giấc mơ tuổi thơ
có đôi mắt giếng xanh
ném từng viên đá cuội
vào ước vọng tuổi thông vàng
(Đôi Mắt Giếng Xanh Tuổi Thơ)

Trăng hay tôi vừa khóc? Không, chỉ là đôi mắt giếng xanh nọ vừa bị ý thơ Trịnh Y Thư . . . bất bị nhân khiên xả / Thử tâm chung bất dao . . . (Nếu người không khuấy lên thì lòng này đâu dao động. Thơ Nguyễn Du, bài Đạo Ý).

Tôi lạ lẫm, thích thú trước một phong cách khác của Trịnh Y Thư.

Có một kỷ niệm. Sáng 31 tháng 7 năm 2015, tôi nhận một e-mail của nhà thơ, bảo là đêm qua có Blue Moon, hỏi tôi có viết gì không. Riêng nhà thơ thì ngồi ngóng mãi ánh xanh . . . (Tôi manh nha viết bài này từ cái e-mail với cái “subject: Blue Moon” lãng mạn này). Và, tôi nhận được mấy câu thơ:

. . . ngỡ chuông tịnh độ trăng rằm ngoài hiên
hồn quạnh quẽ bóng tịch nhiên
một thiên phù mộng chưa quên – cũng đành.

Ngoài âm vang im lặng của lá, giờ tôi biết thêm âm thanh của con trăng rằm. Bởi người thơ quán niệm ánh trăng tới khuya lơ nên mới nghe ra rằm buông tiếng chuông thấp thoáng cõi tịnh độ chăng? Rồi người – một vầng trăng ảo thềm khuya – đối mộng trăng rằm, chờ phút khai thị ánh xanh? Chỉ còn chút dùng dằng với thiên phù mộng kia thôi là tan vào cõi chuông tịnh độ. Hãy chờ đấy.

Ý niệm phù sinh nhược mộng khơi gợi một nét thơ khác không thường thấy trong giọng thơ Tây học này. Nét ấy làm tôi thấy gần hơn thơ của Trịnh Y Thư, bởi dĩ nhiên, rất chủ quan, thơ kiệm lời ẩn dụ ý mênh mang dễ chạm được cảm xúc tôi. Có cảm tưởng như, sau khi chìm đắm với giai điệu blues bi phẫn trong một góc quán lắng mình dưới quạnh ly rượu đỏ, chàng lang thang trên phố, trong phút – cũng đành thôi! nỗi nhớ kia – thì bỗng lọt vào nơi hư ảo thời gian có điệu trầm bổng nương tựa – điệu sáu tám. A, nó luân lưu trong huyết quản từ bao giờ, từ hạt mầm nghìn xưa cha ông đã cấy sẵn, mà khi trên con đường xao động bất chợt dừng chân ta mới sững, nhận ra và bật lên, ngân nga?

Nên ở đây, bên cạnh một Trịnh Y Thư mà sự lĩnh hội và thăng hoa kiến thức Triết học Văn học lộng lẫy Tây phương, còn có một Trịnh Y Thư trữ tình, trầm mặc, bên thềm khuya, ngồi ngóng ánh trăng xanh, cùng Lý Bạch . . . và ánh sáng khai thị . . . chấp chới trước mắt chàng con đường. Ai để đó đôi giầy cỏ. Thôi những bước chân nôn nả ngày mai, để:

Lên chùa ăn bát cơm chay
chợt nghe tiền kiếp chật dày thời gian
một mai về với mây ngàn
chỉ xin nhớ chút dịu dàng của nhau
(Chùm Thơ Lập Xuân 2)

Vâng, mây ngàn kia thì chỉ có sắc tím hoàng hôn hay non tơ mảnh nhẹ của bình minh mới có thể lay động được nó. Nên chi, ở nơi huyễn ảo ấy, những dịu dàng của nhau mới đủ sức cho người lung linh nỗi nhớ. Lời nhắn nhủ sao mà nhu hòa, tình người vị tha đến vậy. Khi đọc tôi thấy thật mềm lòng. Chỉ mong khi gặp, khi xa, nghĩ được như thế về nhau, hẳn là mỗi phút giây hiện hữu bên nhau là mỗi vơi đầy tình người, nhân lên nhiều lần thì thấy hoa quả của hạt giống Tâm. Có phải Lên chùa ăn bát cơm chay nên người thơ cũng thấm nhuần, gieo thiện nghiệp thì mới có thể hội ngộ thiện duyên trong trùng trùng kiếp? Mà nói cho cùng trong nợ vay ấy, biết đâu lại hóa thân kiếp lá, rơi, để trả chút nợ ân tình với cỏ đã từng chở bóng mình trên lòng xanh vô ưu. Có sao đâu, đẹp thiết tha cái tự nhiên sinh hóa hóa sinh.

Lên chùa ăn bát cơm chay
hỏi han mới biết nợ vay kiếp người
rồi đây như chiếc lá rơi
hạ đông ngọn cỏ dặm khơi ảnh nhoà.
(Chùm Thơ Lập Xuân 3)

Lá bay bay, rơi an bình cỏ, trong hút mắt, phút bắt gặp,

. . . tít tắp bãi cỏ xanh bên kia bờ cát lở
một đoá ưu đàm nở lẻ loi.
(Chùm Thơ Lập Xuân 3)

Nói thiệt với nhà thơ, tôi không thích chữ lở. Và, lẻ loi, chỉ là chút bấp bênh cô đơn phút giây vừa cảm thấy. Và theo tinh thần ấy mà tôi nói tiếp như vầy, nhờ hương nghìn năm ấy mà thấy:

. . . chợt thấy muôn triệu điều không hiểu
nhưng hiểu ra cũng chẳng để làm chi
lặng lẽ vũ trụ quay đều
vòng quay vô chung vô thủy
(Chùm Thơ Lập Xuân 1)

Lặng lẽ . . . nên trong nghĩ gì mang mang bỗng lóe mỉm cười hiểu ra cũng chẳng để làm chi . . . Và phải chăng ăn bát cơm chay, để trong nhẩn nha chỉ thấy một điều bình an miếng cơm lạt đang-nhai, và trong phút giây tâm không vọng động có phải cái vòng tròn của tiền kiếp chật dày thời gian, sẽ ngừng quay? Chả vậy mà tôi đã nói là người thơ theo Tây học này, có phải trên đường lên chùa đã bắt được nhịp ánh sáng của mặt trời mọc. Phía ấy. Phương Đông?

Rêu phong những phiến đá nằm sau chùa
mừng rỡ chào đón tôi
ồ không dám
tôi chỉ là gã học trò
đến đây xin các ngài chỉ bảo
các ngài có mặt trên mặt đất này
bao nhiêu triệu năm rồi
loài người chúng tôi làm sao bì kịp
tôi sẽ lắng nghe – vâng sự lặng thinh của đá
là lời nói chân tình nhất tôi từng nghe qua.
(Chùm Thơ Lập Xuân 5)

Nữa, tôi sẽ lắng nghe – vâng sự lặng thinh của đá. Bước chân người học trò lên chùa, để biết không gian tịch tĩnh của biên giới âm dương rêu phong, ẩn mật lời đá. Biết trong lặng thinh mới cảm được chân tình. Biết đằng trước mình đang vọng lại bước kham nhẫn của hài cỏ tỳ khưu. Phút lắng nghe ấy người thơ chợt thấy nhịp gieo vô thường của triệu năm, để nhận ra tất cả chỉ là giấc mộng phù hoa, trăm năm chỉ vạt nắng bên triền chảy cồn sương. Hạt nước bé lăn trôi vòng khổ lụy rồi sẽ chan vào biển rộng,

Hạt cát tôi về đứng giữa đường
ông đi cố nhớ bấy tình thương
trăm năm chỉ một lời từ tạ
vạt nắng bên triền chảy cồn sương
(Chùm Thơ Lập Xuân 6)

Hạt nước lăn tròn những nhiễu nhương
chiêng chao biên vực cửa vô thường
chạnh thương phù mộng chiều đông tái
ngoảnh mặt khuất chìm biển tà dương
(Chùm Thơ Lập Xuân 7)

Và chàng vẫn còn in bóng trên con đường dài. May là “cũng đành”, để buông, để chàng còn có thể, hồn quạnh quẽ bóng tịch nhiên. Phải rồi. Quạnh quẽ thì mới lọt được vào tịch nhiên, thì mới:

Nằm nghiêng ngắm mảnh gương trong
nghe trong tịch lặng mấy vòng tiêu tao
đường trần đã hết lối vào
vọng từ cõi mộ lao xao tiếng cười.
(Chùm Thơ Tháng Năm 4)

Đường trần kia đã mờ mịt sau màn sương, cõi lao xao chỉ là âm vang tiếng cười huyệt mộ. Chàng tiếp tục đi, không giày đen nhọn giục giã bước hài xanh xưa, mà bằng đôi giầy cỏ (của tỳ khưu lục bát gương trong tặng chăng?) Dặm dài đang thu ngắn lại dưới hài cỏ, người ngỡ mình:

cội thông già thanh thản
cúi nhìn khe nước trong rộn rã reo vui

Tôi tỉnh giấc giữa cánh đồng cỏ xanh
xung quanh vàng hoa vàng muôn điệu
(Thiên Thu Một Giấc Mơ Trên Lá Cỏ)

Tôi sẽ lắng nghe. Đó là phút đang đi của chàng. Từng bước. Tỉnh giấc giữa cánh đồng cỏ xanh. Thanh thản để cúi nhìn khe nước trong. Nằm nghiêng ngắm mảnh gương trong. Gương trong xanh ấy là tâm. Bao nhiêu lần tịch lặng để Trăng Tâm chan hòa trong suốt? Buổi tao ngộ biết ngày nao . . . (Chùm Thơ Tháng Năm) thì trên con đường tịnh tâm còn lặng lẽ hài cỏ . . .
Cũng có thể nơi giấc mơ trên lá cỏ, chàng bạc đầu giấc mộng miên man (Chùm Thơ Tháng Năm) thấy vô vi, bậc thầy tóc mây trắng xóa đang biến dần trong cát . . .

Santa Ana, ngày 18.9.2016
Nguyễn Thị Khánh Minh

Đây là một tản văn. Những thơ trích của Trịnh Y Thư không theo thời gian sáng tác của tác giả, cốt để tản văn này như một hòa âm giữa thơ và cảm xúc chủ quan của tôi (NTKM).

Posted in Articles | Để lại bình luận

Charlotte Brontë: Jane Eyre

Charlotte Brontë: Jane Eyre

Trịnh Y Thư dịch

Nhã Nam xuất bản — 2016

Tìm mua tại các tiệm sách hoặc đặt mua trực tuyến qua nối kết sau:

http://nhanam.com.vn/sach/1831/jane-eyre

je_book_pic

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

charlotte-bronte

 

 

 

 

 

 

Charlotte Brontë (1816 – 1855)

Posted in My Books | Để lại bình luận

The Sympathizer: Kẻ phẫn nộ với lịch sử

TheSympathizer_pic

 

The Sympathizer, A Novel by Viet Thanh Nguyen, published by GROVE PRESS, 2015, Winner of the Pulitzer Prize 2016.

*

Con người mắc kẹt trong lịch sử và lịch sử mắc kẹt trong con người.” Nhà văn Mĩ James Balwin nói vậy trong tập tiểu luận Những ghi chú của đứa con bản xứ (Notes of a Native Son) xuất bản năm 1955. Lịch sử không mắc kẹt trong Nguyễn Thanh Việt, tác giả cuốn tiểu thuyết The Sympathizer (Cảm tình viên, Kẻ hai mặt, Kẻ nằm vùng) xuất bản năm 2015, nó bùng nổ dữ dội với nỗi phẫn nộ rát bỏng hiếm thấy trên một trang viết văn học nào.

Năm 2016, cuốn The Sympathizer đi vào lịch sử với giải thưởng Pulitzer bộ môn văn học, giải thưởng cao quý nhất của Hoa Kì, trao tặng hằng năm cho những tác giả xuất sắc nhất thuộc các ngành văn chương, báo chí. Trước đó cuốn sách đã được văn giới Bắc Mĩ không tiếc lời ca ngợi như một tác phẩm tiểu thuyết sâu sắc, có chiều kích lịch sử và chính trị cao rộng; là tiếng nói mới đầy khích động trong văn học Mĩ; là cuốn tiểu thuyết bắt người ta phải đánh giá lại chẳng những chiến tranh Việt Nam mà cả cặp phạm trù chính trị – văn hóa; là một tác phẩm văn học đúng nghĩa nhất bởi nó “mở rộng ý thức con người ra khỏi giới hạn của thân xác và những cảnh huống cá nhân.” Vân vân và vân vân. Đâu đó người ta còn so sánh Nguyễn Thanh Việt với Joseph Conrad, Graham Greene, Denis Johnson và George Orwell, những tác giả của văn học kinh điển phương Tây.

Dưới đây tôi chỉ xin trích dẫn câu nói của ông Robert Olen Butler, một nhà văn viết nhiều về Việt Nam, cũng đoạt giải Pulitzer với cuốn Bửu Sơn Kì Hương (A Good Scent from a Strange Mountain). Ông nói về Nguyễn Thanh Việt như sau, ngắn gọn nhưng đầy đủ:

Nguyễn Thanh Việt chẳng những đã đem lại tiếng nói hiếm hoi và trung thực cho khối tác phẩm văn học Mĩ viết về chiến tranh Việt Nam, với cuốn sách, anh còn vượt qua những đường biên lịch sử, chính trị, quốc gia, và nói lên được chủ đề muôn thuở trong văn học: cuộc kiếm tìm bản ngã và bản nguyên ở tầm mức phổ quát. The Sympathizer là một tác phẩm đầu tay sáng chói của một nhà văn có chiều sâu và tài năng.”

Hiển nhiên, với những lời ca ngợi như thế, đây quả là một thành tựu to tát của một tác giả di dân da màu, với tác phẩm đầu tay, đã có khả năng và tài năng đi thẳng vào “dòng chính” của văn học nghệ thuật Bắc Mĩ, vốn là một môi trường đa dạng và cực kì khó khăn chen chân vào. Nếu không có thực tâm và thực tài, cộng thêm chút may mắn, chuyện đó chẳng bao giờ có thể xảy ra. Và có lẽ tôi chẳng nên nói gì thêm về Nguyễn Thanh Việt, có ca ngợi cũng bằng thừa, và bài viết này giản dị chỉ là những cảm nhận và suy nghĩ cá nhân về một tác phẩm tầm vóc trong mắt nhìn lịch sử.

Hoa Kì là quốc gia yêu chuộng sách vở và quan tâm nhiều đến lịch sử. Do những tương quan và hệ quả trực tiếp của Hoa Kì đối với lịch sử Việt nam thời cận-hiện đại, có một số lượng khổng lồ sách vở viết về chiến tranh Việt Nam, cả phi hư cấu lẫn hư cấu, nhưng từ lâu có sự khô hạn trầm trọng những tác phẩm tiểu thuyết viết về chiến tranh Việt Nam mà tiếng nói chính là người Việt. Những tiểu thuyết gia lừng lẫy có chỗ đứng vững vàng trên văn đàn hiện nay như Tim O’Brien, Philip Caputo, Larry Heinemann viết nhiều về chiến tranh Việt Nam, nhưng họ viết dưới con mắt một chiến binh Hoa Kì. Đọc tác phẩm của họ, chúng ta thấy hình ảnh người Việt chỉ là những bóng mờ, không, những bóng ma chập chờn ẩn hiện thì đúng hơn. Người Việt không có tiếng nói nào trong đó, hoặc nếu có thì cũng chẳng ai thèm nghe họ nói gì. Cuốn Bửu Sơn Kì Hương của Robert Olen Butler có lẽ là trường hợp ngoại lệ hiếm hoi. Bản dịch cuốn Nỗi buồn chiến tranh (The Sorrow of War) của Bảo Ninh và nhiều tác phẩm khác của các tiểu thuyết gia người Mĩ gốc Việt, tuy có gây một vài tiếng vang, nhưng phần lớn chỉ được nhắc đến trong phạm vi đại học và các buổi hội thảo chuyên ngành. (Còn các sản phẩm phim ảnh của Hollywood thì khỏi nói nhiều, thú thật, tôi ít xem vì thấy buồn cười, thậm chí xấu hổ, mỗi khi trông thấy một nhân vật Việt Nam nào xuất hiện trên màn ảnh.) Bởi thế sự ra đời của một tác phẩm như cuốn The Sympathizer là cần thiết và quan hệ, nó lấp được lỗ hổng to tướng này trong văn học Mĩ viết về chiến tranh Việt Nam.

Đọc The Sympathizer tôi có cảm giác sự phẫn nộ của nhân vật chủ thể ngôi thứ nhất, và ở chừng mực nào đó, của chính tác giả, tràn ứ trên mỗi trang viết. Với nhiều dụng ý có tính ám dụ, Nguyễn Thanh Việt đã xây dựng một nhân vật hư cấu không điển hình – nếu không muốn nói là phản anh hùng sử thi – một nhân vật vừa chính diện vừa phản diện, đen trắng không rạch ròi, phân minh, một kẻ hai mặt, hai mang, chính tà lẫn lộn.

Không nhạc nhiên chút nào, đôi khi tôi mơ thấy mình giơ tay kéo cái mặt nạ ra khỏi mặt, và chợt thấy cái mặt nạ ấy chính là khuôn mặt tôi.” Hắn tự thú nhận như thế.

Hắn (nếu tôi có thể gọi nhân vật không tên tuổi ấy như thế) là một đứa con đẻ hoang. Mẹ hắn là người giúp việc cho một linh mục người Pháp và có lẽ trong một cảnh huống nào đó bà bị ông cha hiếp dâm, đẻ ra hắn. Hắn thương mẹ nhưng thù ghét cha mình khôn tả và chỉ mong cha mình chết. Tuổi thơ hắn sống trong tủi nhục và mặc cảm, mặc cảm của đứa con vô thừa nhận. Nhưng lớn lên nhờ thông minh hắn được ăn học đàng hoàng, thậm chí còn sang Mĩ du học, và khi về nước hắn trở thành người làm việc cho cả hai phe lâm chiến. Hắn đeo lon đại úy, làm sĩ quan tùy viên cho một ông tướng, Tổng giám đốc Cảnh sát Quốc gia, nhưng đồng thời là một gián điệp được cục R gài vào; hắn đều đặn báo cáo mọi bí mật quân sự của phe miền Nam cho tổ trưởng Man (Mân hay Mẫn?) trong tổ gián điệp phe Cộng sản. Thực ra, hắn, Man và Bon (Bôn hay Bốn?) là ba người bạn chí thiết từ thuở nhỏ. Ba cậu bé “cắt máu ăn thề” xem nhau như ruột thịt và quyết chí bảo vệ lẫn nhau trong mọi trường hợp. Câu chuyện “Tam Quốc Chí vườn đào kết nghĩa thời đại” này lại chính là xung lực đối nghịch giữa các nhân vật trong cuốn sách. Man theo cách mạng, hành tung bí mật và tuyệt đối trung thành với cách mạng. Bon, ngược lại, đi lính quốc gia thứ dữ, từng là sát thủ trong chiến dịch Phượng Hoàng chuyên ám sát Việt Cộng. Cha của Bon bị Cộng sản giết hại nên hắn đi lính để giết Việt Cộng trả thù cho cha chứ chẳng có lí tưởng gì. Trong bộ ba, Bon là người mờ nhạt nhất.

Xây dựng các nhân vật như thế, chúng ta nhìn thấy ngay dụng ý của tác giả: Lịch sử và định mệnh khốc liệt đã đẩy anh em vào chỗ chém giết nhau. Và nguyên do cho thảm kịch ấy bắt nguồn từ sự việc một quốc gia bị hiếp dâm.

Một linh mục Pháp hiếp dâm một người đàn bà, sinh ra hắn. Tôi đồ đây là một ám dụ. Ông cha chính là nước Pháp và bà mẹ là nước Việt Nam khốn khổ. Ông cha miệng nhân danh sứ mệnh cao cả đi rao giảng ánh sáng Thiên Chúa nhưng thực tế thì hiếp dâm một phụ nữ, cũng như nước Pháp nhân danh “sứ mệnh đi khai hóa các dân tộc kém văn minh” để biện minh cho hành động xâm lăng chiếm nước, như lời ông thủ tướng Pháp Jules Ferry hùng hồn tuyên bố lúc đó. Hắn thương  mẹ nhưng căm thù cha và chỉ mong cha mình chết! Đạo lí đi chỗ khác chơi. Ở đây chỉ có lòng phẫn nộ và căm thù.

Hắn theo cách mạng một phần vì hắn nhìn thấy bộ mặt thối nát, đạo đức giả của đám lãnh đạo miền Nam lúc đó mà đại diện chính là ông tướng, sếp của hắn. Ông tướng thuở trước đi lính cho Pháp, kẻ thù của dân tộc, bây giờ lại tiếp tục nghe lệnh Mĩ quay súng giết hại dân mình. Đại diện cho quyền lực tối cao của nước Mĩ là Claude, một anh CIA, và hành tung của anh ta thì bí mật khôn lường. Trong mắt hắn thì cả Pháp lẫn Mĩ đều là đế quốc. Đế quốc đi chiếm nước, chiếm bằng vũ lực hay bằng những thủ đoạn gian manh nhưng cực kì tinh vi đều đáng ghét và đáng bị đánh đuổi như nhau.

Sau khi Sài Gòn thất thủ, quốc gia thống nhất, mặc dù muốn ở lại xây dựng đất nước thời hậu chiến, nhưng theo lệnh của Man, hắn theo gia đình ông tướng chạy sang Mĩ để tiếp tục nằm vùng ở hải ngoại. Từ đây, câu chuyện trở nên bi hài. Hắn đều đặn gửi thông tin những hoạt động của ông tướng về cho Man, nhưng đồng thời hắn cũng lao đầu vào những cuộc phiêu lưu mới trên đất Mĩ. Hắn dính líu vào chuyện tình với cô thư kí người Mĩ gốc Nhật làm việc chung. Thậm chí hắn còn tán tỉnh cả cô con gái cưng của ông tướng. Có dạo hắn sang Philipinnes phụ trách phần vụ hướng dẫn các diễn viên phụ người Việt tuyển từ trại tị nạn trong một cuốn phim về chiến tranh Việt Nam. Nhưng quan trọng nhất hắn vẫn theo dõi hoạt động kháng chiến phục quốc do ông tướng và thủ hạ của ông âm thầm bàn tính kế hoạch. Ông tướng nghi có nội gián, hắn bảo ông kẻ ấy chính là gã thiếu tá say trong bọn. Để đánh lạc hướng và lấy lòng tin của ông, hắn đồng lõa với Bon đi ám sát gã thiếu tá say. Bon bắn gã thiếu tá say chết tươi ngay trước cửa căn hộ của gã. Chưa hết, sau đó ít lâu sau khi ở Philippines về, hắn tự tay giết luôn một anh nhà báo tên Sonny, bạn học cũ của hắn, vì anh này viết những bài báo bất lợi cho công cuộc kháng chiến của ông tướng. Hắn giết hai mạng người vô tội và cái giá quá đắt hắn phải trả là lương tâm hắn không ngừng cắn rứt.

Ở phần này cuốn sách được viết như một cuốn tiểu thuyết trinh thám với những tình tiết hồi hộp và lôi cuốn. Tâm lí đầy phức tạp của nhân vật, sự xâu xé trong tâm tư kẻ sát nhân, cũng được tác giả mổ xẻ với ngòi bút sắc sảo.

Cuối cùng với sự yểm trợ tài chính của Claude CIA và một chính trị gia hữu khuynh người Mĩ, ông tướng gửi người về biên giới Thái Lan để mưu đồ việc kháng chiến. Dĩ nhiên Bon là người đầu tiên xung phong. Cả vợ lẫn đứa con trai duy nhất của Bon bị lạc đạn chết tại phi trường Tân Sơn Nhất trong lúc chạy lên phi cơ di tản. Bon từ đó sống như cái máy, không thiết tha với cuộc sống nữa mà chỉ chờ đợi cơ hội phục thù, dù biết trở về là đi vào cõi chết. Hắn gửi báo cáo về cho Man và Man ra lệnh cho hắn không được về. Nhưng hắn cãi lệnh vì hắn cảm thấy hắn phải đi theo để bảo vệ tính mạng cho Bon. Hắn biết đây là một cuộc mạo hiểm tự sát. “Làm sao tôi có thể cùng lúc vừa phản bội vừa cứu mạng Bon đây?” Lòng hắn rên rỉ lời than thở như thế.

Bị giằng xé khủng khiếp nhưng cuối cùng hắn chọn con đường ra đi. Kết quả không tránh khỏi là cả bọn bị phục kích chết hết, ngoại trừ hắn và Bon bị bắt về giam tại trại cải tạo. Tại đây suốt một năm trời hắn phải viết lời khai thú tội và lời khai báo ấy chính là cuốn tiểu thuyết The Sympathizer. (Cuốn sách được viết dưới dạng lời khai báo của một tù nhân với người Chỉ huy trưởng trại tù.) Điều bất ngờ nhất cho hắn là viên Chính ủy của trại tù, người nắm toàn quyền sinh sát trong tay, lại chính là Man! Man sau khi nghe tin hắn cãi lệnh nhất định theo toán lính kháng chiến về biên giới đã tìm mọi cách xin về làm Chính ủy trại tù mà Man biết chắc hắn sẽ bị đưa về giam giữ. Đây là phần ba của cuốn tiểu thuyết, được viết như kịch bản một cuốn phim kinh dị, đôi chỗ khiến người đọc liên tưởng đến đoạn cuối cuốn 1984 của nhà văn George Orwell, lúc nhân vật Winston bị đưa vào phòng 101 để tẩy não. Hắn bị tra tấn tàn bạo và có lúc thần trí như điên dại. Cuối cùng hắn đối mặt Man. Vào những ngày cuối của cuộc chiến, Man bị bom napalm đốt cháy khuôn mặt, mặt mũi biến dạng như quỷ sống

Chính vào lúc thần trí như rơi vào cõi sa mù ấy, hắn bỗng nhận thức ra một điều là hắn và những người như hắn, những kẻ hi sinh quá nhiều cho một lí tưởng cao cả, tất cả đều bị phản bội! Chính Man cũng phải thú nhận như thế sau khi tranh luận với hắn.

Có lúc Man lạnh lùng bảo hắn: “Now that we are the powerful, we don’t need the French or the Americans to fuck us over. We can fuck ourselves just fine.”

Câu nói của Man có lẽ là lời thú nhận đau xót nhất cho những kẻ hi sinh cả đời người cho lí tưởng cách mạng để cuối cùng nhìn ra sự thật là sự hi sinh đó của mình bị người ta ném đi như ném một món đồ phế thải. “Giờ đây chúng ta có quyền lực trong tay, chúng ta chẳng cần bọn Pháp bọn Mĩ đào mả nhà chúng ta. Chúng ta tự đào mả nhà mình cũng ra trò không kém.” Thật là trò hề, “một cuộc cách mạng đấu tranh cho độc lập và tự do lại có thể biến những thứ ấy thành cái gì vô giá trị hơn cả một con số zero.”

Cuối cùng Man sắp xếp đưa hắn và Bon về Sài Gòn, và còn lo cho hai người tìm đường vượt biên. Nhưng sau những trải nghiệm bầm giập, cay đắng ê chề như thế, lí tưởng của hắn, cái lí tưởng đặt không đúng chỗ và không đúng thời, có bị tiêu tan hay sứt mẻ đi không? Hoàn toàn không! Hắn vẫn tự xem mình là người chiến sĩ cách mạng, đang đi tìm một cuộc cách mạng khác, vẫn hi vọng dù đôi lúc tự nhận là kẻ mơ mộng hão huyền, vẫn chờ đợi một cơ hội đúng lúc và một chính nghĩa sáng ngời. Hắn là kẻ không bao giờ bỏ cuộc! Cuốn sách chấm dứt bằng câu: “Chúng tôi sẽ sống!” như một lời hứa hẹn tương lai.

Chúng tôi sẽ sống và sẽ tiếp tục chiến đấu cho dù bị phản bội. The Sympathizer là cuốn tiểu thuyết nói về sự phản bội.

Nhưng phải chăng cuộc cách mạng nào cũng đưa đến chỗ phản bội. Phản bội lại chính những lí tưởng cách mạng cao cả tưởng chừng không bao giờ có thể lay chuyển. Lịch sử nhân loại chứng minh điều đó. Phản bội nối tiếp phản bội dẫn đến tình trạng con người ngày nay sống trong khoảng chân không lí tưởng. Lí tưởng cạn kiệt trong một môi trường sống tù túng, ngột ngạt. Không có lí tưởng người ta sống như những thây ma biết đi, những zombie trong loạt phim kinh dị Walking Dead. Ngày nay chúng ta đừng nên trách các thanh thiếu niên chỉ biết suốt ngày ngồi lê la ngoài hàng quán hay chúi đầu vào những trò chơi video vô nghĩa và vô bổ. Chúng ta cũng đừng ngạc nhiên khi thấy hàng triệu thanh thiếu niên nước Mĩ đổ xô đi ủng hộ ông Bernie Sanders trong kì tranh cử Tổng thống năm 2016. Họ đều là những người thiếu lí tưởng và khao khát lí tưởng. Họ là những người đáng thương, đáng thương vì bị phản bội.

The Sympathizer là cuốn tiểu thuyết chứa đựng nhiều chủ đề phức tạp, đa chiều kích, và có tham vọng giải tỏa một số những ngột ngạt ấm ức bấy lâu trong lòng những người thuộc thế hệ hậu chiến. Họ không trực tiếp tham gia cuộc chiến, không bị những đau thương và thù hận chi phối nhận thức nên cái nhìn của họ là tương đối khách quan. Do sự phi lí của cuộc chiến ấy, họ có cái nhìn gay gắt, có lẽ không đồng quan điểm với đa số những thành phần thủ cựu thuộc cả hai bên thắng và thua trận. Quan trọng hơn cả, cái nhìn của họ sẽ góp phần vào việc thẩm định đúng đắn của lịch sử sau này.

Công bằng mà nói thì không nên nhìn một tác phẩm tiểu thuyết từ góc độ chính trị, nhưng The Sympathizer là một cuốn tiểu thuyết chính trị từ đầu đến cuối, chính trị xã hội và chính trị lịch sử đan xen nhau. Khó tìm được một chương nào của cuốn sách không liên quan đến các vấn đề chính trị. Từ lịch sử chính trị của cuộc chiến Việt Nam ba mươi năm cho đến chính trị nước Mĩ. Và đấy là một quan điểm chính trị  nặng phần tả khuynh. Tác giả phê phán gay gắt việc lâm chiến của nước Mĩ vào Việt Nam đã đành mà còn tỏ ra không chút cảm tình với văn hóa và đời sống nước Mĩ. Biểu tượng của nước Mĩ là anh Claude CIA, cực kì thông minh, tài năng xuất chúng nhưng cũng cực kì lưu manh và xảo quyệt. Còn phía miền Nam thì sao? Đại biểu cho phe lãnh đạo miền Nam trong thời chiến là ông tướng, kẻ liếm gót thực dân và đế quốc. Còn tiêu biểu cho phe chống Cộng là Bon, một kẻ giết Việt Cộng vì căm thù cá nhân chứ chẳng có lí tưởng gì. Vì là tiểu thuyết nên tác giả sử dụng các biểu tượng và ẩn dụ cho quan điểm lịch sử của mình. Trong mắt tác giả đấy là một cuộc chiến huynh đệ tương tàn, anh em mỗi người một chiến tuyến. Mặc dù người Mĩ là thủ phạm chính nhưng người Việt đã chẳng những không thương xót nhau mà còn quay ra thẳng tay giết hại lẫn nhau. Quan điểm này đúng hay sai có lẽ sẽ còn được tranh nghị dài lâu và tùy vị trí cá nhân, không một quan điểm nào là chân lí. Điểm đáng nói là cái lí tưởng cao cả cho cuộc chiến tranh ấy, cái lí tưởng chống Mĩ cứu nước, ở đây đã bị giải thiêng.

Sự thật lịch sử có lẽ không giản đơn, không trắng đen rành rọt như tác giả vẽ ra trong cuốn tiểu thuyết dày gần 400 trang được viết với ngòi bút nghệ thuật hiếm có. Lịch sử là một con voi và tất cả chúng ta đều là những thầy mù xem voi. Hơn nữa, “Tiểu thuyết gia không phải là kẻ hầu hạ sử gia.” Nhà văn Milan Kundera có lần nói như thế. Rất tiếc ở đây tiểu thuyết gia Nguyễn Thanh Việt đã theo hầu sử gia một cách khá tận tình. Theo tôi, đấy là nhược điểm duy nhất của cuốn sách.


Bài viết này còn xuất hiện dưới hình thức một cuộc trao đổi giữa Trịnh Y Thư và phát thanh viên Thanh Hà của đài RFI Tiếng Việt. Xin truy cập vào trang web sau đây để nghe toàn bộ cuộc nói chuyện ấy.

Phần I: (Phát thanh hôm 19/8/2016)

http://vi.rfi.fr/viet-nam/20160819-the-sympathizer-ke-phan-no-voi-lich-su-i

Phần II: (Phát thanh hôm 25/8/2016)

http://vi.rfi.fr/viet-nam/20160826-the-sympathizer-ke-phan-no-voi-lich-su-ii

Posted in Articles | Để lại bình luận

Con hổ phục: Trung Quốc hành động, Mĩ Quốc chần chờ

Con hổ phục: Trung Quốc hành động, Mĩ Quốc chần chờ

Peter Navarro, Ph.D.

Trịnh Y Thư dịch

Crouching tiger

 

 

 

 

Lời người dịch: Sau khi Tòa án Trọng tài Thường trực đưa ra phán quyết bác bỏ tính hợp pháp của tuyên bố chủ quyền “đường lưỡi bò chín đoạn” của Trung Quốc – đòi chủ quyền 90% lãnh hải Biển Đông, một vùng biển rộng cả triệu dặm vuông, hải sản và tài nguyên phong phú, và cũng là một hải tuyến giao thương quan yếu mỗi năm 5 nghìn tỉ đô la hàng hóa qua lại – Trung Quốc vẫn tiếp tục xem thường công luận quốc tế, duy trì thái độ hung hăng cố hữu, không ngừng tập diễn quân sự tại các hòn đảo nhân tạo cưỡng chiếm quanh quần đảo ám tiêu san hô Trường Sa, đồng thời tích cực vận động ngoại giao để lôi kéo đồng minh về phe mình.

Hành động này của Trung Quốc hiện đang là đề tài cho không ít những tranh nghị, tuy không làm thành bản tin nóng hổi hằng ngày trên các kênh truyền hình nước Mĩ nhưng ở hậu trường nó là vấn đề nhức nhối vô cùng nghiêm trọng và được quan tâm tối đa trong giới lãnh đạo và học giả chuyên gia Hoa Kì. Đã có không ít giấy mực tuôn ra với nhiều luận điểm khác nhau trên các diễn đàn chính trị kinh tế, điển hình là bài viết phân tích đầy đủ và sâu sắc của Giáo sư Tiến sĩ Peter Navarro dưới đây. Dẫn chứng các học giả, phân tích gia chiến lược, chuyên gia chính trị và kinh tế thuộc các học viện và “think-tank” danh tiếng, ông đưa ra cái nhìn sáng suốt và thực tiễn về thực trạng quan hệ chiến lược giữa Trung Quốc và Hoa Kì, về hiểm họa chiến tranh có thể xảy ra giữa hai cường quốc kinh tế – quân sự này, và đáng chú ý nhất, về cán cân lực lượng chiến lược giữa đôi bên, về những thách đố khó khăn Hoa Kì phải đương đầu. Phần cuối bài viết, ông đề xuất chính sách chiến lược Hoa Kì nên áp dụng trong những thập niên sắp tới hầu có thể đối phó với con hổ phục Trung Quốc đang giơ nanh múa vuốt với mưu toan chinh phục chẳng những vùng Á Châu – Thái Bình Dương mà cả toàn thế giới.

Mặc dù tác giả viết bài này từ góc nhìn của Hoa Kì nhưng đây là bài viết đáng đọc cho người Việt quan tâm đến vấn đề Biển Đông bởi vì vị trí đặc biệt của Việt Nam ở vùng tranh chấp và dù muốn hay không Việt Nam vẫn nằm trong quỹ đạo chiến lược của hai siêu cường ấy.

Giáo sư Peter Navarro tốt nghiệp Đại học Harvard với cấp bằng Tiến sĩ Kinh tế học, hiện giảng dạy tại Đại học California-Irvine (UCI). Từ nhiều năm nay ông được biết đến như một chuyên gia Kinh tế vĩ mô xuất sắc, tác giả của mười một cuốn sách đã xuất bản. Cuốn mới nhất có nhan đề Con hổ phục: Chủ nghĩa quân phiệt của Trung Quốc có ý nghĩa gì với thế giới, mà ông đã dựa vào để thực hiện bài viết dưới đây, đăng trên quý san World Affairs Journal số mùa Đông năm 2016. Ông viết nhiều về Á Châu, có thời gian sinh sống và công tác nơi đó. Ông từng xuất hiện trên các kênh truyền hình như BBC, CNN, CNBC, MSNBC, NPR, và chương trình60 Minutes” của kênh CBS. Ông cũng viết tham luận cho các tờ báo danh tiếng như New York Times, Wall Street Journal Washington Post. Đặc biệt, ông còn chính tay thực hiện một cuốn phim tài liệu nhan đề “Death by China”(Vì Tàu mà chết) do nam tài tử nổi tiếng Martin Sheen giữ phần thuyết minh. (Bạn có thể stream cuốn phim này trên Netflix.)

Xin có đôi lời về bản dịch. Khi dịch cụm từ South China Sea, tôi không dịch là Biển Đông mặc dù đấy vẫn là tên gọi vùng biển này của người Việt xưa nay, mà dịch là biển Nam Hoa, lí do vì không muốn nhầm lẫn với East China Sea trong ngữ cảnh toàn bài. Hình ảnh trong bài là do tôi thu nhặt từ Từ điển Bách khoa Wikipedia và cuốn sách nói trên của tác giả. Thêm vào đó, tôi dựng bảng chú thích để giúp phần nào hiểu thêm văn bản nguyên tác. Phần chú thích, nếu có sai lầm hoặc sơ sót mong được quý độc giả chỉ giáo.

*

Sẽ có chiến tranh với Trung Quốc không? Câu trả lời có lẽ tùy thuộc ai là người thắng cử vào Tòa Bạch Ốc năm nay, và chính sách nào chính phủ mới sẽ đem ra áp dụng.

Mối đe dọa một cuộc xung đột xảy ra không hẳn là hoang tưởng. Chuyên gia chính trị Stefan Halper thuộc Đại học Cambridge không muốn “báo động” nhưng ông ghi nhận là có những “khác biệt sâu sắc” Trung Quốc quyết tâm chuẩn bị giải quyết vấn đề bằng vũ lực. Ông Graham Allison thuộc Đại học Harvard cũng cảnh giác tương tự về một cái “bẫy Thucydides”(1) mà trong đó một Trung Quốc đang trên đường tiến lên địa vị cường quốc sắm vai trò Athens để kình chống lại Sparta Hoa Kì, và từ mối quan ngại có thể sẽ dẫn đến cuộc chạy đua võ trang và cuối cùng là chiến tranh. Ông Michael Green thuộc Trung tâm Nghiên cứu Chiến lược Quốc tế thì đưa ra lời đánh cuộc như sau: “Hoa Kì phải tiên kiến một tương lai nhiều khả thể với Trung Quốc, có thể hòa hoãn, thân thiện nhưng cũng có thể cực kì khó khăn, khốc liệt, và ở trường hợp tệ hại nhất, một Trung Quốc hung hãn, thù địch.

Với gia tốc bành trướng quân sự như đang thấy, nếu Trung Quốc chỉ tìm cách bảo vệ lãnh thổ và phát triển những tuyến giao thương toàn cầu để quốc gia thêm thịnh vượng thì thế giới có thể ngủ yên. Nhưng nếu Trung Quốc cùng lúc quyết tâm theo đuổi chủ nghĩa bành trướng, tìm cách đẩy lui quân đội Hoa Kì ra khỏi vùng Á Châu – Thái Bình Dương, cưỡng chiếm lãnh thổ, lãnh hải, cùng tài nguyên từ các quốc gia lân bang, thì có lẽ khó tránh được xung đột.

Sách lược tăng cường lực lượng quân sự để bảo vệ lãnh thổ của Bắc Kinh có căn nguyên từ ý thức “Thế kỉ Nhục nhã”(2). Từ những năm 1830 cho đến khi Thế Chiến Thứ Hai chấm dứt, Trung Quốc nằm dưới sự áp bức tàn bạo của ngoại nhân. Từ người Anh, người Nga, người Nhật cho đến người Đức, người Pháp, người Mĩ, tất cả hiếp dâm, chặt đầu, chiếm cảng, giành đất của người Trung Quốc. Ông Toshi Yoshihara thuộc Đại học Quân sự Hải quân Hoa Kì bảo, “Bài học lịch sử người Trung Quốc học được là ‘không bao giờ để tái diễn.’ Trung Quốc sẽ không bao giờ để mình yếu kém nữa bởi vì yếu kém có nghĩa là mời gọi ngoại nhân vào ức hiếp mình.”

Sách lược bành trướng quân sự cần thiết cho việc bảo vệ các tuyến giao thương cũng bắt nguồn từ lịch sử. Ngay từ khi Đặng Tiểu Bình khởi động tái thiết Trung Quốc, từ một quốc gia xã hội chủ nghĩa, tự lực cánh sinh, một bán cường quốc vùng để trở thành một siêu cường kinh tế toàn cầu như ngày nay, Tư lệnh Hải quân Trung Quốc lúc đó, Đô đốc Lưu Hoa Thanh (Liu Huaqing), đã bắt tay xây dựng một lực lượng hải quân tiên tiến để giúp họ Đặng củng cố và duy trì một Trung Quốc kinh tế hùng mạnh. Trong mắt nhìn của ông Yoshihara và ông James Holmes cũng thuộc Đại học Quân sự Hải quân Hoa Kì thì họ Lưu là một nhà quân sự Mahan, một danh hiệu lấy từ tên họ ông Alfred Thayer Mahan, một chiến lược gia lí thuyết người Mĩ sống vào thế kỉ XIX, người đề xuất chiến lược dùng lực lượng Hải quân toàn cầu như một phương tiện hỗ trợ phát triển kinh tế.

Lưu Hoa Thanh đề xuất chiến lược ba-bước mà hình như Trung Quốc kiên trì theo đuổi từ đó cho đến nay. Ở bước đầu, Trung Quốc sẽ phá vỡ mắt xích quần đảo thứ nhất, đó là hải tuyến chạy dài từ quần đảo Kuril và Nhật Bản xuyên qua tâm điểm Đài Loan băng ngang eo biển Luzon đến Philippines và xuống tận đảo Borneo của Malaysia. Về điểm này học giả Dean Cheng thuộc Sáng hội Heritage cho chúng ta biết, “Nếu mắt xích quần đảo thứ nhất nằm trong tay những quốc gia thù địch chống lại Bắc Kinh thì nó là cái rào cản không cho Trung Quốc khả năng đi ra biển khơi.”

Bước thứ hai Trung Quốc sẽ chặt đứt mắt xích quần đảo thứ hai, tức là hải tuyến chạy dài từ quần đảo Kuril xuống tận Tân Guinea, đâm thẳng qua cái neo của lực lượng quân sự Hoa Kì ở Á Châu: thành trì đảo Guam.

tuyen mat xich

 

 

Hai mắt xích quần đảo Lưu Hoa Thanh muốn phá vỡ

 

Sau cùng, vào quãng năm 2050, hạm đội Trung Quốc sẽ bao trùm toàn cầu phóng chiếu quyền lực ra toàn thế giới.

Nếu Trung Quốc thật sự thành công kiểm soát toàn thể lãnh hải Á Châu – Thái Bình Dương, họ chỉ có thể làm được bằng cách đánh bại Hoa Kì hoặc bắt Hoa Kì bằng lòng mà không có một thái độ phản kháng nào. Dĩ nhiên, hậu quả sẽ là một Trung Quốc càng hiếu chiến hơn với các quốc gia lân bang, tương tự như Nga với Đông Âu ngày nay.

Với “trò chơi lớn” mới này, hiểm họa chiến lược và kinh tế là vô cùng lớn lao. Về mặt chiến lược, kẻ nào kiểm soát cửa ngõ biển Nam Hoa ra Ấn Độ Dương, đi luồn qua eo biển Malacca nhỏ hẹp và trắc trở, kẻ đó kiểm soát luôn Đông Nam Á, và có lẽ cả Đông Á, bởi đa phần dầu khí dùng thắp đèn cho Nhật Bản và Nam Hàn đều phải đi qua vùng biển Nam Hoa này.

Thêm nữa, con đường buôn bán “lụa và hương liệu” hiện đại là hải trình của một phần ba tổng số lượng hàng hóa chuyên chở toàn cầu, chưa kể biển Đông Hoa và Nam Hoa còn là vùng biển có nhiều cá. Trong lúc đó, nằm bên dưới hơn một triệu dặm vuông đáy biển có thể là những túi dầu hỏa sánh ngang với vịnh Persia.

Ở biển Nam Hoa, Trung Quốc đã “thái dồi” xong quần đảo Hoàng Sa trong tay Việt Nam và ngang nhiên kéo những giàn khoan dầu nổi có cả hạm đội tàu chiến yểm trợ vào vùng biển mà Hà Nội vẫn xem là thuộc Việt Nam. Cùng một nước cờ, Trung Quốc cưỡng chiếm bãi đá ngầm Macclesfield Bank và bãi cạn Scarborough Shoal(3) của Philippines, bãi cạn Thomas Thứ Nhì vẫn còn dằng dai trong vòng tranh chấp chủ quyền giữa đôi bên. Thậm chí Trung Quốc còn để mắt đến vùng biển giàu khí đốt thuộc quần đảo Natuna của Indonesia, cách xa Hoa Lục cả nghìn dặm.

Tương tự như thế ở vùng biển Đông Hoa, Nhật Bản cũng đang lâm vào tình trạng dằng co càng lúc càng găng với Trung Quốc về đảo Senkaku, một quần thể năm hòn đảo nhỏ với tổng diện tích không quá hai dặm vuông. Vụ tranh chấp gay gắt này, được tô đậm bởi tinh thần quốc gia cực đoan, đã dẫn đến những cuộc biểu tình bài Nhật vĩ đại ở Hoa Lục cũng như những vận động của Tokyo nhắm đến một khả năng quân sự hùng mạnh hơn. Nó cũng đe dọa một viễn ảnh Hoa Kì bị lôi kéo vào vòng tranh chấp.

Nhiều quan sát viên tỏ vẻ hoang mang không hiểu lí do tại sao Trung Quốc lại càng lúc càng hung hăng tìm cách cưỡng chiếm vài “tảng đá bé xíu nằm chơ vơ trên mặt biển” như thế. Kì thực, chiếu theo Công ước Liên Hiệp Quốc về Luật Biển kí kết năm 1982 thì quốc gia nào sở hữu những bãi đá mà có thể duy trì cuộc sống đều được hưởng quy chế “Vùng Đặc quyền Kinh tế”, một đặc quyền khai thác tất cả tài nguyên thiên nhiên trong vòng 200 dặm. Bởi thế, theo giải thích của học giả Stefan Halper thuộc Đại học Cambridge, một cường quốc lục địa như Trung Quốc có thể bành trướng chủ quyền hàng hải nhanh chóng và sâu rộng nhờ những “vòng tròn đồng tâm” với “hiệu ứng nhảy cừu.” Để đạt mục tiêu họ chỉ cần cưỡng chiếm những hòn đảo nhỏ đang tranh chấp.

Công ước Liên Hiệp Quốc về Luật Biển cũng gây phức tạp rất lớn cho quan hệ giữa Hoa Kì và Trung Quốc. Trung Quốc đơn phương đưa ra khẳng định không cho tự do hàng hải, kể cả tàu chiến và phi cơ quân sự, chẳng những trong phạm vi cách đất liền 12 dặm mà cả Vùng Đặc quyền Kinh tế 200 dặm, một điều không hề được nói đến trong Công ước. Nếu chủ thuyết “ngăn biển” này của Trung Quốc được chấp nhận, Trung Quốc sẽ nắm trọn quyền kiểm soát tuyến giao thương lợi lộc nhất trên thế giới.

South_China_Sea_claims_map

 

 

 

 

 

 

Bản đồ biển Đông (theo cách gọi của Việt Nam) với đường “lưỡi bò chín đoạn” mà Trung Quốc áp đặt trong mưu toan thâm độc cưỡng chiếm 90% lãnh hải.

Sự tranh chấp về thẩm quyền này đã dẫn đến nhiều vụ va chạm. Năm 2001 Trung Quốc bắt giữ phi hành đoàn một phi cơ thám thính của Hoa Kì bị rơi. Gần đây hơn, chiến đấu cơ Trung Quốc bay những phi thức lộn vòng nguy hiểm cố tình khiêu khích một phi cơ tuần tra của Hoa Kì. Dưới biển Trung Quốc cũng cho tàu chiến bám đuôi tàu USS Impeccable, một chiếc tàu không võ trang chỉ có nhiệm vụ giám sát đại dương. Chưa hết, Trung Quốc còn chặn tàu USS Cowpens, một tuần dương hạm trang bị phi đạn tự hành, không cho chiến hạm này hoạt động trong hải phận quốc tế.

Sở dĩ không có quả bom nguyên tử nào thả xuống mặt đất trong thời kì Chiến tranh Lạnh, là vì Hoa Kì và Liên Xô nói chuyện với nhau. Thí dụ, giữa Tổng thống Hoa Kì và Thủ tướng Liên Xô có một “đường dây nóng” bắt đầu hoạt động từ năm 1963, và các chỉ huy trưởng Hải quân thường xuyên liên lạc với nhau “từ đài chỉ huy này sang đài chỉ huy kia.”

Giữa Trung Quốc và Hoa Kì ngày nay, không hề hiện hữu một cái “cầu dao” như thế. Cựu Thứ trưởng Quốc phòng Kurt Campbell lên khung dị biệt chiến lược này như sau: “Hoa Kì chủ trương phô trương sức mạnh. Xem này, chúng tôi mạnh mẽ là nhường nào, các ông chớ có mà vọng động.” Ngược lại, Trung Quốc “tìm thế ngăn chặn các lực lượng thù địch, thông thường là qua phương cách tạo sự bất định, không chắc chắn, khiến không ai biết rõ họ có khả năng gì.” Học giả David Lampton thuộc Đại học Johns Hopkins nói thêm: “Chúng ta tự khiến mình tin là sự sáng tỏ sẽ ngăn ngừa xung đột, nhưng Trung Quốc thì lại tin chính sự mơ hồ và không minh bạch mới đem lại kết quả tốt cho họ.”

Tương tự như thế, có sự dị biệt chiến lược khi các chiến hạm Hoa Kì và Trung Quốc chạm trán nhau trên đại dương, và những sự cố như thế ngày càng gia tăng. Từ quan điểm của Hoa Kì, liên lạc với nhau “từ đài chỉ huy này sang đài chỉ huy kia” là quan trọng vì nó giúp tránh những tính toán sai lầm. Tuy nhiên, theo giải thích của bà Stephanie Kleine-Ahlbrandt thuộc Học viện Hòa bình Hoa Kì thì, đối với Trung Quốc, đường dây trao đổi thông tin ấy chỉ là “dây cài bảo hiểm cho những kẻ phóng xe quá tốc độ.”

Đúng thế, giới lãnh đạo quân sự Trung Quốc tin tưởng là sẽ có lợi cho Trung Quốc hơn nếu cứ để các nhà quân sự Hoa Kì lo lắng, phân vân, không biết phản ứng của Trung Quốc sẽ như thế nào. Làm thế phía Hoa Kì sẽ thận trọng hơn. Đôi khi hình như họ quên mất một điều là “sự việc có thể vuột ra ngoài tầm kiểm soát” như giáo sư Campbell nói.

Hai cột trụ chống đỡ chiến lược quân sự của Trung Quốc – ngăn vùng và chiến tranh bất đối xứng – cũng nhắm vào những xung đột có thể xảy ra trong tương lai.

Chuyên gia Mark Stokes thuộc Học viện Nguyên cứu Chiến lược hiểu các thuật ngữ quân sự “chống xâm nhập” và “ngăn vùng”(4) là “ngăn cản.” Theo bà Bonnie Glaser thuộc Trung tâm Nghiên cứu Chiến lược Quốc tế thì mục tiêu của Trung Quốc là ngăn chặn các quốc gia khác, đặc biệt là Hoa Kì, để không nước nào có khả năng can thiệp vào lãnh địa hay lãnh hải gần Trung Quốc một khi biến động khủng hoảng xảy ra.

Còn theo ông Bill Gertz thuộc tổ chức Washington Hải đăng Tự do thì chiến lược bất đối xứng đi kèm theo của Trung Quốc không có mục đích “chống lại guồng máy chiến tranh của Hoa Kì trên cơ bản một-chọi-một, như đã từng xảy ra trong thời kì Chiến tranh Lạnh giữa Hoa Kì và Liên Xô.” Thay vào đó, “Trung Quốc tập trung năng lực thiết lập những hệ thống vũ khí thích dụng.” Ông Toshi Yoshihara, một học giả của trường Đại học Chiến tranh, tuyên bố như sau: “Một phần của cái đẹp đen tối trong chiến lược chống xâm nhập và ngăn vùng của Trung Quốc là sự chênh lệch rất xa giữa giá thành của các hệ thống vũ khí. Thí dụ, để đóng một chiếc hàng không mẫu hạm người ta phải tốn nhiều tỉ đô la, trong khi một giàn hỏa tiễn của Trung Quốc chỉ tốn vài triệu; và chỉ cần một hỏa tiễn là có thể bắn trúng mục tiêu. Một trận thư hùng như thế, Hoa Kì khó mà thắng được. Trung Quốc có thể sản xuất ra thật nhiều hỏa tiễn so với số lượng tàu lớn của Hoa Kì.”

Ông Ashley Tellis thuộc tổ chức Hỗ trợ Hòa bình Thế giới Carnegie miêu tả chiến lược đặt trọng tâm vào hệ thống hỏa tiễn “mũi giáo” của Trung Quốc có khả năng tấn công nhiều mục tiêu ở tất cả các hướng như là “một thí dụ tuyệt hảo về chiến tranh bất đối xứng.” Ông giải thích thêm, “Điểm thìa khóa các loại hỏa tiễn đạn đạo và hỏa tiễn tấn công đất liền giúp tạo thế thượng phong là khống chế khả năng phòng không của phe địch. Một khi triệt hủy được khả năng phòng không rồi, bạn có thể đem oanh tạc cơ hạng nặng vào trận địa.” Cùng một nhận định như vậy, ông Dan Blumenthal thuộc Viện Thương mại Hoa Kì bảo, “Vì thế, cho dù bạn ở Đài Loan, hay Nhật Bản hay thậm chí Việt Nam, bạn không ngừng trực diện những giàn hỏa tiễn của Trung Quốc mà có thể bắn trúng bạn. Mỗi lần thương thảo với người Trung Quốc, ngay đầu bạn lúc nào cũng có một khẩu súng lăm lăm chĩa vào.”

Không hẳn chỉ những quốc gia láng giềng với Trung Quốc nằm trong tình trạng nguy hiểm. Trong mắt nhìn của ông Lyle Goldstein, cũng thuộc Đại học Quân sự Hải quân Hoa Kì, thì loại hỏa tiễn siêu âm mới, cực kì cơ động, có khả năng lướt ngoài không gian của Trung Quốc là mối đe dọa đặc biệt đối với các căn cứ tiền đồn và hàng không mẫu hạm của Hoa Kì bởi vì loại hỏa tiễn này có một tốc độ siêu đẳng lúc từ không gian chui vào thượng tầng khí quyển.” Ông Gertz giải thích thêm: “Tất cả hỏa tiễn phòng vệ chống hỏa tiễn của quân đội chúng ta đều được chế tạo để chống hỏa tiễn đạn đạo và các loại hỏa tiễn khác có quỹ đạo tương đối dễ tiên đoán. Khi phải đối đầu với loại đầu đạn cơ động bay với tốc độ gấp mười lần tốc độ âm thanh thì các hệ thống chống hỏa tiễn của chúng ta trở nên tương đối kém hiệu quả.”

Trung Quốc cũng dự trữ trong kho đạn một số lượng thủy lôi khổng lồ, nhiều nhất thế giới, và hạm đội tiềm thủy đĩnh gia tăng mỗi ngày mỗi nhanh của họ thích nghi khít khao với chiến lược này. Mục đích của chiến thuật thả thủy lôi không phải là đánh đắm tàu địch, mà ngăn chặn, không cho tàu địch tiến vào hải phận bằng đòn khủng bố tâm lí và làm chậm tiến độ hải hành vì phải mất nhiều thời gian vét mìn. (Thí dụ, trong trận chiến Vùng Vịnh, mặc dù Hải quân Hoa Kì đã tốn rất nhiều công sức vét mìn, nhưng vẫn có hai quả thủy lôi nổ, mỗi quả trị giá không quá 50 ngàn đô la, làm thiệt hại tuần dương hạm USS Princeton trị giá một tỉ.) Trong mắt nhìn của ông Bernard Cole thuộc Đại học Quốc phòng thì thủy lôi là rào cản đặc biệt khó khăn trong trường hợp chiến tranh xảy ra giữa Trung Quốc và Đài Loan bởi vì cả đảo Đài Loan chỉ có hai hải cảng. Ông Yoshihara nói: “Nếu Trung Quốc tiên hạ thủ vi cường thả thủy lôi ngoài khơi hai hải cảng này, Đài Loan sẽ bị xem như cô lập. Không còn một hải cảng nào khác khả dĩ làm đường tiếp vận giúp Đài Loan tiếp tục chống đỡ.”

Thủy lôi của Trung Quốc được dùng song hành với hạm đội tiềm thủy đĩnh chạy bằng dầu cặn và điện lực. Đến năm 2020, theo dự báo của Ngũ Giác Đài, Trung Quốc sẽ có một hạm đội tiềm thủy đĩnh từ 69 đến 78 chiếc. Gần như tất cả những tiềm thủy đĩnh mới đóng đều được trang bị máy móc nhập từ nước ngoài cho hệ thống lực đẩy không tùy thuộc không khí.(5) Nhiều chiếc cũ cũng được tân trang với loại hệ thống máy móc đó. Ông Richard Fisher thuộc Trung tâm Lượng định và Chiến lược Quốc tế ghi nhận: “Tiềm thủy đĩnh chạy bằng dầu cặn và điện lực loại quy ước vốn dĩ đã khó truy tầm vì chúng không phát ra tiếng động lớn. Nay lại được trang bị bằng hệ thống lực đẩy không tùy thuộc không khí, chúng sẽ trở nên thập phần nguy hiểm hơn, nhất là đối với hạm đội hàng không mẫu hạm Hoa Kì.”

Ông Yoshihara hình dung ra một viễn ảnh ác mộng trong đó các tiềm thủy đĩnh quy ước của Trung Quốc nằm dưới đáy biển chờ hạm đội tác chiến hàng không mẫu hạm Hoa Kì đến gần rồi đồng loạt phóng ra hàng loạt hỏa tiễn tuần la chống chiến hạm để đánh phủ đầu đoàn chiến hạm phòng thủ. Chiến thuật đó chẳng những khiến người ta nhớ lại phương châm của Joseph Stalin “số lượng có chất lượng của chính nó,” mà còn đặt nghi vấn về niềm tin vẫn được bám víu một cách sâu rộng bấy lâu nay, đó là, kĩ năng vượt trội của guồng máy quân sự Hoa Kì sẽ luôn luôn đem lại chiến thắng.

Ông Aaron Friedberg thuộc Đại học Princeton cho chúng ta cái nhìn điềm tĩnh như sau: “Cộng đồng tình báo của Hoa Kì đã ngạc nhiên hết sức về chất lượng các hệ thống vũ khí do Trung Quốc chế tạo, và một phần của lí do đó là Trung Quốc đã và đang đánh cắp những sáng chế mật của Hoa Kì.” Kết quả, ngày nay Trung Quốc có thể chế tạo phi cơ không người lái y như Hoa Kì. Họ cũng bắt đầu cho bay những phi cơ tối tân nhất, như chiến đấu oanh tạc cơ Chengdu (Thành đô) J-20, mà Ngũ Giác Đài đã đánh giá sai lầm là cả nhiều thập niên nữa mới có; và, không như Hoa Kì bị hạn chế ngân sách (phải chấm dứt kế hoạch sản xuất chiến đấu cơ tối tân F-22), Trung Quốc sẽ tùy tiện sản xuất với số lượng khổng lồ bất kì loại vũ khí nào họ cho là cần thiết, tương tự như Hoa Kì đã làm thời Thế Chiến Thứ Hai để đánh phủ đầu những vũ khí tối tân hơn của Đức Quốc.J20_2

 

 

Chiến đấu cơ tàng hình thế-hệ-thứ-năm Chengdu J-20 của Trung Quốc

 

Trung Quốc công khai áp dụng chiến lược hai-gọng-kìm “giết hàng không mẫu hạm” để ngăn chặn, không cho lực lượng Hoa Kì xâm nhập vùng biển Á Châu – Thái Bình Dương bằng cách đi cưỡng chiếm các hòn đảo trong vòng tranh chấp thuộc vùng biển Đông Hoa và Nam Hoa. Trung Quốc cũng lăm le xâm lấn những ngọn đồi vùng biên giới Bắc Hàn, thậm chí còn muốn lấy đất của bang Arunachal Pradesh của Ấn Độ, vùng đất mà Trung Quốc gọi là “Nam Tạng.”(6)

Làm thế nào để duy trì hòa bình dưới những sức ép càng lúc càng gia tăng như thế? Chắc chắn Hoa Kì đã đánh cuộc khá lớn vào sức mạnh phát triển kinh tế trong ý định chuyển hóa Trung Quốc từ một chế độ độc tài, hiếu chiến thành một cơ cấu dân chủ tự do. Tuy vậy, theo lời ông Ian Fletcher thuộc Liên minh cho một Quốc gia Hoa Kì Thịnh vượng thì: “Phát triển kinh tế ở Trung Quốc không đưa quốc gia này đến chỗ dân chủ hơn. Nó chỉ giản dị biến thành một thể chế độc tài tinh vi và giàu có hơn.”

Quan trọng là sự am hiểu tinh tường về vai trò của tính liên thuộc kinh tế trong việc ngăn chặn – hay gây nên – xung đột. Nếu một quốc gia như Trung Quốc tùy thuộc nhiều vào việc buôn bán những món hàng quan yếu cho nền an ninh quốc gia, quốc gia ấy rất có thể chọn giải pháp chiến tranh một khi sự liên thuộc kinh tế gia tăng. Chính sự liên thuộc như thế đã khiến Đức Quốc mở cuộc tấn công khơi mào cho Đại Chiến Thứ Nhất năm 1914 vì Đức e sợ cả Pháp lẫn Anh không chịu bán thực phẩm, quặng sắt và dầu khí cho mình để phát triển kinh tế. Đây cũng không giản dị chỉ là sự nghi ngờ hoang tưởng bên phía Đức: Cả Pháp lẫn Anh đều công khai thảo luận việc cấm vận trước khi chiến tranh bùng nổ, rất giống đường lối các phân tích gia ngày nay như ông T.X. Hammes thuộc Đại học Quốc phòng đưa ra khuyến nghị “bóp nghẹt kinh tế” Trung Quốc trong trường hợp biến cố xung đột xảy ra.

Học giả Aaron Friedberg thuộc Đại học Princeton có đưa ra vài ghi nhận dè dặt đáng nhắc lại nơi đây: “Những quốc gia có quan hệ giao thương tốt không nhất thiết trở thành đối tác chiến lược và chính trị tốt; lịch sử chứng minh điều đó, những quốc gia có quan hệ giao thương tốt lại thường đi đến chỗ gây chiến với nhau.”

Về tranh nghị các quốc gia không dám mạnh tay vì nguy cơ chiến tranh hạt nhân sẽ tiêu diệt cả hai phe (7) thì ông Ashley Tellis thuộc viện Carnegie đưa ra lập luận phản bác như sau. Ông nói Trung Quốc ngày nay trên khán trường quốc tế sở hữu một lực lượng nguyên tử khả tín, nguy cơ một cuộc chiến tranh nguyên tử có thể là không lớn, nhưng thật ra nguy cơ một cuộc chiến tranh quy ước lại gia tăng “vì Trung Quốc đã và đang liên tục tiếp thu những khả năng ngăn chặn không cho Hoa Kì nhảy vào trợ giúp các quốc gia bạn ở Á Châu.”

Ông Toshi Yoshihara giải thích tính nghịch lí “bình ổn-bất bình ổn” nằm bên dưới nguy cơ ấy như sau: “Nếu Trung Quốc có khả năng áp đặt chiến lược chống xâm nhập của họ, rất có thể họ sẽ tạo được một không gian chiến lược để chĩa mũi tiến công trong một cuộc chiến tranh quy ước tại vùng biển Á Châu. Và do đó, có vũ khí nguyên tử trong tay không nhất thiết có nghĩa là đảm bảo không có chiến tranh. Nó chỉ giản dị mở ra khả thể cho những loại chiến tranh khác.”

Nếu chúng ta không thể trông mong vào mối quan hệ hỗ tương kinh tế, vào sự liên thuộc giao thương, vũ khí hạt nhân cũng không làm Trung Quốc giảm bớt hung hăng, vậy còn lại là con đường nào khác khả dĩ duy trì hòa bình? Chắc hẳn có người bảo là thay vì xoay trục sang Á Châu, Hoa Kì nên ở lại nhà và phó mặc vùng đất ấy cho Trung Quốc. Nhưng theo luận điểm của ông Gordon Chang, kí mục gia tạp chí Forbes, thì “tuyến phòng thủ địa đầu của Hoa Kì không phải là Alaska hay California mà là Nam Hàn và Nhật Bản,” và những căn cứ tiền đồn đóng vai trò chiến lược quan yếu trong công tác phát hiện và ngăn chống hỏa tiễn. Ở đây, chúng ta cũng đừng quên Hoa Kì từ hồi nào đến giờ vẫn là một quốc gia sở dĩ hùng cường là nhờ ngoại thương; một Á Châu tự do ra vào là những thị trường thuộc loại phát triển nhanh nhất trên thế giới.

Không chấp nhận giải pháp rút lui vào vòng cô lập, vậy thì chính sách của chúng ta phải như thế nào? Bất kì câu trả lời nào đều phải bắt đầu bằng nhận định sau: Nếu Hoa Kì chỉ tìm cách bắt kịp Trung Quốc theo kiểu “mày một viên đạn, tao cũng một viên đạn” thì kết quả rất có thể sẽ là một cuộc chạy đua võ trang càng lúc càng găng, và rốt cuộc một hoặc cả hai bên cùng kiệt quệ, hoặc sau cùng đi đến chỗ choảng nhau chí tử và tận diệt.

Ông Michael Pillsbury, một phân tích gia thuộc Ngũ Giác Đài đưa ra lời cảnh báo tỉnh táo như sau: “Sẽ chẳng có cách nào ngăn chống nổi một nghìn cái hỏa tiễn chống chiến hạm của Trung Quốc chĩa vào mặt chúng ta. Thế giới chúng ta đang bước vào là thế giới trong đó nền kinh tế của Trung Quốc đã qua mặt chúng ta và đang lớn mạnh để có ngày to gấp hai chúng ta. Điều đó có nghĩa là nếu muốn, họ có thể dễ dàng gia tăng ngân sách binh bị nhằm tập trung vào chúng ta và ngân sách này có thể cao hơn chúng ta.”

Làm thế nào để vị Tổng thống kế nhiệm đối phó với tình trạng Trung Quốc bao vây càng lúc càng quyết liệt đây? Câu trả lời nằm nơi khái niệm mà chính người Trung Quốc gọi là “tổng hợp quốc lực,”(8) một khái niệm có căn nguyên sâu xa bắt rễ từ câu nói nổi tiếng của Tôn Tử, “Không đánh mà làm khuất phục được quân của người, ấy là người giỏi ở trong những người giỏi.”(9) Ông Ngô Xuân Thu (Wu Chunqiu) thuộc Học viện Khoa học Quân sự Trung Quốc thì nói như sau: “Bất chiến tự nhiên thành không có nghĩa là hoàn toàn không có chiến tranh. Chiến tranh mà người ta phải chiến đấu là chiến tranh chính trị, chiến tranh kinh tế, chiến tranh khoa học và kĩ thuật, chiến tranh ngoại giao. Mặc dù sức mạnh quân sự là một yếu tố quan hệ, trong thời bình thông thường nó chỉ được dùng như một lực lượng hỗ trợ.”

Thí dụ, hãy thử xem xét sức mạnh tổng hợp của quốc gia tối cần chỉ để xây dựng những lực lượng quân sự hỗ trợ. Một sức mạnh tổng hợp như thế phải bắt đầu bằng một nền kinh tế mạnh có khả năng vừa sản xuất vũ khí vừa thu thuế để trang trải những khoản kinh phí khổng lồ. Tuy nhiên, để có một nền kinh tế mạnh, quốc gia phải có một lực lượng công nhân viên đắc lực có khả năng làm việc cao độ – và do đó, một nền giáo dục mạnh tương đương.

Cùng lúc, những tiến bộ nhanh chóng về sáng kiến và kĩ thuật chỉ có thể xảy ra trong một hệ thống tài chính dồi dào đầu tư vào các công trình nghiên cứu và phát triển, một chế độ thuế khóa nâng đỡ các hoạt động kinh doanh. Và không nền kinh tế nội địa nào có thể phát triển nếu không có tự do đi vào các thị trường nước ngoài. Để đi vào những thị trường như thế đòi hỏi chẳng những một liên minh mạnh giữa những đối tác mà còn sự tự do hải hành. Điều sau này ngay lập tức bẻ lái tiến trình tổng hợp sức mạnh trở lại trọng điểm hàng đầu là làm thế nào để có một lực lượng quân sự hùng mạnh hầu giữ vững và rộng mở hải không phận cho việc giao thương.

Ông David Lampton, một học giả thuộc Đại học John Hopkins, nói rằng Trung Quốc sẽ tôn trọng Hoa Kì nếu sức mạnh quốc gia của Hoa Kì được duy trì ở đường lối toàn diện như vậy. Tuy nhiên nếu Hoa Kì suy thoái thì sẽ vô cùng khó khăn đương đầu với Trung Quốc.

Song, một quốc gia với một nền kinh tế thịnh vượng, một hệ thống giáo dục hoàn hảo, một trật tự chính trị bình ổn, một kho tài nguyên thiên nhiên phong phú, một lực lượng lao động tốt, mà binh bị yếu kém thì vẫn là miếng mồi ngon cho bất kì kẻ thù địch võ trang đầy đủ nào với ác tâm xâm lấn, chiếm đoạt. Ông Patrick Cronin thuộc Trung tâm Tân Bảo an Quốc gia miêu tả một “lực lượng cân bằng cho thế kỉ XXI” mà Hoa Kì cần có “ở những số lượng cần thiết” để duy trì hòa bình bằng sức mạnh quân sự như sau: “Tôi cần hàng không mẫu hạm, phi cơ, tiềm thủy đĩnh. Tôi cần kĩ thuật tàng hình, tôi cần khả năng tuần tra các tuyến hàng hải. Cùng lúc tôi cần tiếp tục đầu tư vào kĩ thuật tin học, kĩ thuật không gian và phi cơ không người lái, kể cả loại phi cơ không người lái tầm xa bởi vì những kĩ thuật đó toàn là những thứ có thể ‘thay đổi cuộc chơi.’”

Ông Aaron Friedberg thuộc Đại học Princeton cũng tỏ ý quyết liệt không kém khi đưa ra quan điểm phải giảm bớt nhược điểm của những căn cứ tiền đồn của Hoa Kì ở Á Châu bằng một chiến lược tứ giác gồm: làm cho cứng, phân tán mỏng, đa dạng hóa, và tái cấu trúc lực lượng.

“Làm cho cứng” là di chuyển những căn cứ hậu cần và kho vũ khí xuống lòng đất thật sâu, phi cơ cũng thế, tất cả phải được đưa xuống hầm an toàn, rồi đổ xuống hàng tấn xi măng cùng hàng tấn thép để tăng độ cứng của phi đạo, nhà cửa, doanh trại, cầu tầu.

“Phân tán mỏng” là tái bố trí cả căn cứ địa lẫn tàu chiến, làm thế nào để Trung Quốc vấp phải nhiều khó khăn khi nhắm bắn mục tiêu. Thí dụ, ông Toshi Yoshihara đưa ra đề nghị, thay vì duy trì hai căn cứ to đùng sờ sờ trước mắt là Okinawa và Guam thì hãy dùng quần đảo Ryukyu của Nhật Bản và rải mỏng thành một quần thể những căn cứ nhỏ hơn nhiều.

“Đa dạng hóa” là mở rộng những căn cứ và cơ sở sang những quốc gia mà sự có mặt của Hoa Kì chưa đông đảo, như Philippines và Việt Nam. Ông Dan Blumenthal nói như sau: “Nếu giới lãnh đạo Trung Quốc phải suy nghĩ về việc nhắm bắn mục tiêu trên nhiều quốc gia khác nhau, điều đó sẽ khiến họ chùng bước hơn là chỉ vài căn cứ ở Nhật Bản hay một chiếc hàng không mẫu hạm.”

Ông Friedberg cũng muốn xoay bàn chiến tranh bất đối xứng và chiến lược ngăn vùng về phía Trung Quốc bằng phương cách “tái cấu trúc lực lượng.” Về điểm này ông James Holmes đưa ra khuyến nghị không dựa vào hạm đội tác chiến hàng không mẫu hạm nữa, vốn là bảo bối của các sếp lớn Hải quân nhưng nằm ỳ trên biển cả cho người ta bắn như vịt trời, mà nên dựa vào hạm đội tiềm thủy đĩnh lớp-Virginia chuyên tấn công, bố trí tại những điểm nghẽn trọng yếu dọc theo hai tuyến mắt xích quần đảo thứ nhất và thứ hai.

Về các hệ thống vũ khí khác, một trong những vấn đề lớn nằm trong chương trình nghị sự của vị Tổng thống nhiệm kì sắp tới có lẽ là một chiếc oanh tạc cơ chiến lược mới. Hôm tháng Mười vừa qua, công ti Northrop Grumman kí một hợp đồng 21,4 tỉ đô la để điều nghiên dự án cho ra đời một chiếc oanh tạc cơ mới. Nhưng câu hỏi chưa được trả lời là cuối cùng sẽ có bao nhiêu chiếc, và người kế vị ngồi trong Tòa Bạch Ốc năm 2017 sẽ phải dứt khoát trả lời câu hỏi này. Ông Michael Auslin thuộc Học viện Kinh doanh Hoa Kì là người ủng hộ dự án, ông nói:

“Chiếc oanh tạc cơ B-52 mới nhất của chúng ta cũng đã 50 tuổi rồi và chúng ta có đến ba thế hệ – ông, cha, con – cùng lái một chiếc phi cơ. Đấy là loại phi cơ tốt, nhưng chúng không thể nào thoát hiểm khi phải đương đầu với những hệ thống phòng thủ hỏa tiễn tự động ngày nay. Thêm vào đó, chúng ta chỉ có vỏn vẹn 20 chiếc B-2, và chúng cũng chẳng mới mẻ gì. Bởi thế chúng ta cần chế tạo và sản xuất một loại oanh tạc cơ mới, và thật nhiều chiến đấu cơ F-35 để khai quang mặt đất và bầu trời trong trường hợp cần thiết. Chúng ta cần làm việc này bởi những lí do quân sự cũng như chính trị. Nó sẽ giúp đem lại sự bình ổn cho Á Châu nhiều hơn chứ không kém đi.”

Nhìn xa hơn những bước cụ thể này, Giảng viên Phillip Karber thuộc Đại học Georgetown kêu gọi một chính sách “phản ứng đối ứng” kiểu vis-à-vis đối đầu với Trung Quốc: “Các ông tính chuyện tài binh cắt giảm lực lượng đi, lúc đó chúng tôi cũng sẽ cắt giảm lực lượng của chúng tôi. Còn các ông chủ trương gây hấn có những hành động như sản xuất thêm hỏa tiễn và đe dọa các căn cứ cùng đồng minh của chúng tôi thì chúng tôi sẽ có phản ứng ngay.”

Trớ trêu thay, những lời răn đe như thế nhắc nhở đây là thời điểm tốt để bắt tay với  đồng minh, song những lời hứa hẹn suông và những quan hệ bị bỏ quên đã làm phung phí cơ hội một cách liều lĩnh và ngu xuẩn.

Cứ nhìn vào sự thất bại của chính sách “xoay trục” sang Á Châu của chính quyền Obama thì biết. Được long trọng đề xuất năm 2011, theo dự kiến, Ngũ Giác Đài sẽ gia tăng 60 phần trăm tổng số chiến hạm thuộc hạm đội Thái Bình Dương. Tuy nhiên, vì hạm đội ấy càng lúc càng thu nhỏ nên vào năm 2020 tổng số chiến hạm Hoa Kì trong vùng sẽ ít hơn con số lúc chính sách được công bố năm 2011. Ông James Holmes mỉa mai, “Cứ xét những tín hiệu ngoại giao và ngăn chặn thì chuyện xoay trục xem ra có vẻ như trò trẻ con chơi bóng.”(10)

Ông Pat Mulloy, cựu thành viên của Ủy ban Xét duyệt Kinh tế và An ninh Mĩ-Trung, còn đi xa hơn một bước khi ông phê bình chính sách “xoay trục” xem-quân-sự-là-chính của Tòa Bạch Ốc. Ông bảo chiến lược xoay trục ấy để lộ ra sự thiếu hiểu biết cơ bản của Hoa Kì về yêu cầu bức xúc tái thiết sức mạnh quốc gia tổng hợp. Ông đưa ra nhận định sau: “Tổng thống bảo chúng ta phải xoay trục sang Á Châu vì Trung Quốc đang vươn lên. Nhưng Trung Quốc vươn lên vì chúng ta để cán cân mậu dịch nghiêng hẳn về phía Trung Quốc. Do đó, phải chăng sẽ hợp lí hơn nhiều nếu chúng ta quân bằng cán cân ấy bằng cách chấm dứt ngay tình trạng giới tiêu thụ Mĩ tiếp tục nuôi cho Trung Quốc đi lên? Đấy mới là phương cách xoay trục sang Á Châu thật sự thông minh.”

Để chống đỡ một cách hòa hoãn những thách đố khó khăn về các vấn đề kinh tế và an ninh nghiêm trọng gây nên bởi sự tiến bộ nhanh chóng của Trung Quốc, trước hết phải có sự đồng thuận chính trị. Tuy thế, sự đồng thuận như thế rất khó thực hiện trong một nền dân chủ mở nơi những nhóm tranh giành ảnh hưởng kinh tế chia nhau đặc quyền trong việc buôn bán với Trung Quốc, những nhóm “chính trị hành lang” sẽ tranh giành lẫn nhau chứ không chịu ngồi chung bàn để cùng hướng về một mục đích chung. Thêm nữa, trong khi chính phủ độc tài Trung Quốc có toàn quyền dùng báo chí truyền thanh truyền hình làm cái loa cho luận điểm của mình thì giới truyển thông Tây phương và các trường đại học Hoa Kì đều tự áp đặt một chế độ kiểm duyệt.

Sự thật là, “căn nhà chia rẽ” này đã từ lâu giải thích tại sao các nền dân chủ Tây Phương, nhất là Hoa Kì, đã tỏ ra vô cùng chậm chạp phản ứng lại một Trung Quốc hận thù ấp ủ nhất quyết tiến lên chiếm lĩnh vai trò độc bá thế giới.(11) Tuy nhiên, nếu tình trạng vùi-đầu-xuống-cát này tiếp diễn mãi thì kết cuộc của câu chuyện e là rất tệ.

Để đọc nguyên tác, xin truy cập vào trang mạng dưới đây:

http://www.worldaffairsjournal.org/article/crouching-tiger-china-acts-america-dithers

––––––––––––––––––

Chú thích của người dịch:

(1) Thucydides Trap: Nhà chính trị học người Mĩ Graham Tillett Allison (sinh 1940) đề xuất thuật ngữ này để ám chỉ nước cờ một quốc gia đang tiến lên địa vị hùng cường (như Trung Quốc) lừa bẫy bằng cách gây mối quan ngại cho một quốc gia khác hùng mạnh và độc bá từ lâu (như Hoa Kì). Từ quan ngại sẽ dẫn đến vận động chiến tranh. Allison mượn điển tích cuộc chiến giữa hai trung tâm quyền lực thời cổ đại Hi Lạp là Athens và Sparta.

(2) Ý thức này được nhà văn Lỗ Tấn dùng làm mô-típ chính trong cuốn truyện vừa Ah Q chính truyện viết năm 1921. Nhân vật Ah Q lúc nào mở miệng cũng chê bai kẻ khác nhưng bị tất cả mọi người trong làng từ trên xuống dưới làm nhục mà tự mình thì không biết nhục. Ah Q là ẩn dụ ám chỉ một nước Trung Hoa phong kiến hèn kém bị liệt cường xâu xé, làm nhục. Ý thức này ăn sâu tâm khảm người Trung Quốc suốt hai thế kỉ qua.

(3) Bãi đá ngầm Macclesfield Bank người Trung Quốc gọi là Trung Sa (Zhongsha) quần đảo, và bãi cạn Scarborough Shoal của Philippines là Hoàng Nham Đảo (Huángyán Dăo).

(4) Thuật ngữ quân sự “chống xâm nhập” và “ngăn vùng” được tạm dịch từ cụm từ tiếng Anh “anti-access” và “area-denial”, thường được viết tắt là A2/AD.

(5) Hệ thống lực đẩy không tùy thuộc không khí (Air-independent propulsion systems), tiềm thủy đĩnh chạy bằng dầu cặn và điện lực trang bị hệ thống máy móc hiện đại này có khả năng lặn dưới biển lâu hơn.

(6) Southern Tibet.

(7) Nguyên vế câu văn này dịch thoát từ thuật ngữ chính trị “nuclear deterrence”, một chủ thuyết quân sự đề xuất vào thời kì Chiến tranh Lạnh giữa Hoa Kì và Liên Xô. Vì sức tàn phá của bom hạt nhân là vô cùng khủng khiếp, do đó theo chủ thuyết này, một lực lượng nguyên tử nhỏ yếu hơn vẫn có thể cầm chân được phe địch nếu lực lượng được bảo vệ kĩ càng, không bị thiệt hại nặng nề trong một cuộc tấn công bất thần. Nó là chiến lược ngăn ngừa, răn đe phe địch không được vọng động vì nếu chiến tranh nguyên tử xảy ra thì cả hai cùng chết. Ý niệm hệ quả của chủ thuyết này là MAD (Mutual Assured Destruction).

(8) “Tổng hợp quốc lực” là một khái niệm mới, gần đây luân lưu khá sâu rộng trong giới lãnh đạo và học giả Trung Quốc, dịch sang tiếng Anh là Comprehensive National Power. Khi dịch sang tiếng Việt, tôi trở lại Trung văn dưới dạng Hán-Việt.

(9) Trong nguyên tác, vế câu tiếng Anh là “to subdue the enemy without fighting is the acme of skill.” Khi dịch sang tiếng Việt, thay vì dịch sát nguyên văn, tôi mượn câu văn trong thiên Mưu Công của Tôn Tử Binh Pháp. Trong phép dụng binh, Tôn Tử nhấn mạnh đến mưu mẹo chiến lược để chống địch chứ không chủ trương dùng sức mạnh quân sự. Tôn Tử mở đầu thiên Mưu Công với câu nói: “Phàm dụng binh chi pháp, toàn quốc vi thượng, phá quốc thứ chi,” mà có thể hiểu là “Trong phép dụng binh, khiến cho toàn bộ nước địch đầu hàng là thượng sách, còn đánh cho tan tành nước ấy chỉ là thứ sách.”

(10) Ông Holmes dùng cụm từ “bush-league” để mỉa mai chính sách “xoay trục” Á Châu của chính quyền Obama. Bush-league là tên gọi chung các liên đội bóng chày của thanh thiếu niên Mĩ.

(11) Ở đây tác giả sử dụng thuật ngữ “revanchist” để gọi đích danh Trung Quốc. Nguyên vế sau câu văn tiếng Việt này tán rộng ý nghĩa của thuật ngữ. “Revanchism” (từ gốc revanche tiếng Pháp có nghĩa là trả thù) là một chủ thuyết chính trị kêu gọi lòng yêu nước để phục hưng quốc gia, tinh thần dân tộc, sự thịnh vượng, v.v…  sau khi bị thua trận, mất đất đai vào tay ngoại nhân. Gọi Trung Quốc là revanchist, trong mắt nhìn của tác giả, Trung Quốc sẽ không từ bỏ bất cứ phương tiện nào để đạt vai trò độc bá trên thế giới vì tâm thức “Thiên triều” và mối thù suốt trên thế kỉ bị Tây phương và Nhật Bản giày xéo.

 

Posted in Translation | 1 Phản hồi

Virginia Woolf: Căn phòng riêng

Căn phòng riêng

Tiểu luận văn học của Virginia Woolf

Trịnh Y Thư dịch

NXB Tri Thức

Tái bản lần thứ nhất – 2016

Tìm mua tại các tiệm sách hoặc đặt mua trực tuyến qua nối kết sau:

http://nxbtrithuc.com.vn/Danh-muc-tu-sach/2654744/393/Can-phong-rieng.html

cpr_pic1cpr_pic2

Posted in My Books | 4 phản hồi